Skip to content
Tài chính - Kế toán

Bẫy Ngầm Phế Phẩm: Khi Tổn Thất Sản Xuất Đang Âm Thầm Bóp Méo Báo Cáo Tài Chính Và Hút Cạn Dòng Tiền Doanh Nghiệp (0790)

18 min read

Kiến thức Tài chính/Kế toán

Phế phẩm không phải là rác thải vô giá trị nằm cuối dây chuyền sản xuất, mà là một khối tài sản đã tiêu hao nguyên vật liệu, nhân công và khấu hao máy móc nhưng không tạo ra doanh thu, âm thầm gặm nhấm vốn lưu động trước khi kịp hiện hình trên báo cáo kết quả kinh doanh.

Khi phòng họp cất lên câu hỏi tỷ lệ phế phẩm đang ở mức hai phần trăm hay ba phần trăm và liệu con số đó có nằm trong tỷ lệ cho phép của ngành hay không, toàn bộ bộ máy quản trị đang nhìn nhận sai lầm về bản chất kinh tế của tổn thất. Phế phẩm không bao giờ là một tỷ lệ phần trăm tĩnh được dung thứ trên giấy, mà là một dòng rò rỉ liên tục của dòng tiền mặt. Luận đề trung tâm của quản trị tài chính hiện đại đối với phế phẩm là: mọi sự gia tăng của phế phẩm không chỉ làm giảm biên lợi nhuận gộp của một sản phẩm đơn lẻ, mà trực tiếp kéo dài chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Cash Conversion Cycle) thông qua việc giam giữ vốn lưu động trong những sản phẩm hỏng không thể thương mại hóa. Luận điểm này chỉ đảo chiều khi chi phí biên của việc đầu tư công nghệ kiểm soát tự động thấp hơn chi phí biên của nguyên vật liệu bị lãng phí cộng với chi phí cơ hội của số tiền bị giam giữ đó, đồng thời năng lực tiêu thụ của thị trường cho phép chuyển hóa chi phí chất lượng vào giá bán mà không làm suy giảm thể tích tiêu thụ.

Xét về bản chất kinh tế, phế phẩm trong hệ thống sản xuất công nghiệp hiện đại không chỉ là sản phẩm không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Nó là một thực thể tài chính mang trong mình giá trị đầu vào của nguyên vật liệu trực tiếp (Direct Materials), chi phí nhân công trực tiếp (Direct Labor) đã bỏ ra để gia công, và chi phí sản xuất chung (Manufacturing Overhead) được phân bổ theo tỷ lệ giờ máy hoặc giờ nhân công. Khi một đơn vị sản phẩm biến thành phế phẩm, toàn bộ giá trị tích lũy này không được phép biến mất khỏi sổ sách theo cách tự nhiên mà phải được cô lập, đánh giá lại và xử lý qua các tài khoản chi phí sản xuất dở dang hoặc chi phí sản xuất chung, tùy thuộc vào nguyên nhân phát sinh. Cấu trúc định nghĩa của phế phẩm đòi hỏi sự phân tách rõ ràng giữa lượng nguyên vật liệu có thể thu hồi để tái chế và phần tổn thất thuần túy không thể cứu vãn.

Phân loại cấu trúc phế phẩm chia làm hai nhánh rõ rệt đòi hỏi các phương pháp hạch toán và kiểm soát khác nhau. Nhánh thứ nhất là phế phẩm có thể tái chế (Reworkable Scrap), nơi các chi phí bổ sung về nhân công và năng lượng có thể đưa sản phẩm quay trở lại chu trình sản xuất để trở thành thành phẩm đạt chuẩn. Nhánh thứ hai là phế phẩm hủy bỏ thuần túy (Scrap Loss), nơi sản phẩm không còn giá trị cơ học nào khác ngoài việc bán thu hồi như vật liệu phế thải hoặc đưa đi tiêu hủy. Điểm mù tài chính lớn nhất xuất hiện khi kế toán chi phí gom chung cả hai loại này vào một khoản mục chi phí sản xuất chung hoặc phân bổ đều vào giá vốn hàng bán (Cost of Goods Sold), làm cho giá thành của những sản phẩm đạt chuẩn bị gánh thay chi phí của những sản phẩm hỏng. Sự méo mó này làm cho biên lợi nhuận gộp của từng dòng sản phẩm bị bóp méo nghiêm trọng trên báo cáo kết quả kinh doanh, khiến nhà quản lý lầm tưởng rằng một số dòng sản phẩm đang rất có lãi trong khi thực tế chúng đang gánh chịu phần chìm của tảng băng chi phí phế phẩm.

Để thấy rõ sự méo mó này, xét một ví dụ tính toán minh họa (minh họa). Một dây chuyền sản xuất lắp ráp linh kiện điện tử sản xuất mười nghìn đơn vị sản phẩm trong kỳ. Giá thành định mức cho mỗi đơn vị sản phẩm đạt chuẩn bao gồm mười đồng nguyên vật liệu, năm đồng nhân công trực tiếp và năm đồng chi phí sản xuất chung, tổng cộng là hai mươi đồng một đơn vị. Trong kỳ, có một nghìn đơn vị biến thành phế phẩm hủy bỏ thuần túy, không thể tái chế, nhưng chỉ thu hồi được hai đồng mỗi đơn vị khi bán phế liệu. Tổng chi phí thực tế đã bỏ ra cho một vạn đơn vị sản phẩm là hai trăm nghìn đồng. Nếu hạch toán sai lầm bằng cách chia đều tổng chi phí này cho chín nghìn sản phẩm đạt chuẩn, giá thành đơn vị của sản phẩm tốt bị đẩy lên gần hai mươi hai phẩy hai đồng, làm sai lệch hoàn toàn quyết định định giá sản phẩm trên thị trường. Nếu hạch toán đúng theo chuẩn mực kế toán quản trị, giá trị của một nghìn phế phẩm sau khi trừ đi khoản thu hồi phế liệu là mười tám đồng một đơn vị, nhân với một nghìn đơn vị, tạo ra khoản tổn thất mười tám nghìn đồng phải được ghi nhận ngay vào chi phí trong kỳ hoặc phân bổ vào giá vốn của toàn bộ lô sản xuất thay vì ép những sản phẩm tốt gánh chịu một cách vô lý.

See also  Tài chính/Kế toán: Phiếu xuất kho (GIN). (0472)

Tác động dây chuyền của phế phẩm đối với kinh tế vi mô đơn vị sản phẩm (Unit Economics) và điểm hòa vốn cấp độ vi mô là cực kỳ sâu sắc. Điểm hòa vốn được tính bằng tổng định phí chia cho biên đóng góp (Contribution Margin), trong đó biên đóng góp bằng giá bán trừ đi biến phí đơn vị. Khi tỷ lệ phế phẩm tăng lên, biến phí thực tế tính trên mỗi sản phẩm hoàn thành tăng lên vì doanh nghiệp phải mua lượng nguyên vật liệu lớn hơn mức lý thuyết để bù đắp cho phần bị loại bỏ. Biến phí tăng làm cho biên đóng góp thu hẹp lại, từ đó đẩy điểm hòa vốn lên cao hơn về mặt số lượng sản phẩm cần tiêu thụ. Một doanh nghiệp có thể đạt kế hoạch doanh thu thuần nhưng vẫn cạn kiệt dòng tiền hoạt động đơn giản vì thể tích sản phẩm thực tế cần bán để hòa vốn đã dịch chuyển vượt quá năng lực sản xuất thực tế của nhà máy sau khi trừ đi tỷ lệ phế phẩm phát sinh.

Phế phẩm không đơn thuần là một chỉ số kết quả (Lagging Indicator) mà là một chỉ báo sớm (Leading Indicator) sắc bén của sự suy thoái vận hành và đứt gãy quy trình. Trước khi một dây chuyền sản xuất ghi nhận sự sụt giảm lợi nhuận ròng trên báo cáo tài chính quý, tỷ lệ phế phẩm tại các trạm gia công trung gian đã âm thầm tăng lên do dao động nhiệt độ lò nung, độ mòn của dao cắt, hoặc sự sai lệch trong dung sai của lô nguyên vật liệu đầu vào từ nhà cung cấp mới. Bộ phận tài chính thường chỉ nhận được báo cáo kết quả kinh doanh sau khi kỳ kế toán kết thúc, nghĩa là sau ít nhất ba mươi đến bốn mươi lăm ngày kể từ thời điểm phế phẩm phát sinh trên sàn nhà xưởng. Khoảng trễ thời gian này biến phế phẩm thành một cái bẫy quản trị, nơi nhà quản lý dùng số liệu quá khứ để ra quyết định cho hiện tại, trong khi dòng tiền đã bị rò rỉ từ nhiều tuần trước đó.

Phân tích chuỗi giá trị (Value Chain) cho thấy các điểm rò rỉ giá trị tài sản thường tập trung tại các nút thắt sản xuất (Bottlenecks) có cường độ vận hành cao nhất. Tại các nút thắt này, áp lực hoàn thành chỉ tiêu sản lượng khiến công nhân và quản đốc vận hành đẩy máy móc vượt qua giới hạn thiết kế, dẫn đến tỷ lệ lỗi kỹ thuật tăng vọt. Mỗi đơn vị phế phẩm phát sinh tại nút thắt không chỉ làm mất đi giá trị của chính nó mà còn làm tê liệt toàn bộ năng lực thông lượng của toàn bộ dây chuyền phía sau, vì các công đoạn tiếp theo bị bỏ đói nguyên liệu hoặc phải chờ đợi linh kiện thay thế. Giá trị tài sản bị rò rỉ ở đây bao gồm cả chi phí cơ hội của nhà xưởng và thiết bị bị giảm hiệu suất sử dụng (Overall Equipment Effectiveness).

Việc dung dưỡng tỷ lệ phế phẩm vượt ngưỡng cho phép mang theo chi phí ẩn của việc tối ưu hóa công suất sai lầm. Nhiều nhà quản lý tin rằng việc duy trì máy móc chạy hết công suất một trăm phần trăm thời gian sẽ tối ưu hóa chi phí cố định phân bổ trên từng đơn vị sản phẩm. Quan điểm này bỏ qua một thực tế rằng khi máy móc vận hành liên tục mà không có thời gian bảo trì định kỳ, tỷ lệ phế phẩm tăng vọt sẽ ăn mòn toàn bộ khoản tiết kiệm chi phí cố định thu được từ việc tăng sản lượng. Chi phí ẩn này bao gồm chi phí nhân công kiểm tra, chi phí xử lý môi trường cho phế liệu độc hại, và quan trọng nhất là chi phí vốn lưu động bị kẹt trong đống tồn kho phế phẩm chờ xử lý chưa thể tiêu thụ.

Mô hình kiểm soát tổn thất dòng tiền vận hành thông qua cấu trúc chi phí biên (Marginal Cost) của phế phẩm đòi hỏi phải nhìn nhận mỗi đơn vị phế phẩm dưới lăng kính dòng tiền ra thực tế. Khi nguyên vật liệu được mua về bằng các khoản phải trả người bán ngắn hạn có kỳ hạn ba mươi ngày, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh toán bằng tiền mặt khi đến hạn, bất kể nguyên vật liệu đó đã trở thành thành phẩm bán được tiền hay đã nằm trong thùng rác dưới dạng phế phẩm. Nếu tỷ lệ phế phẩm vượt quá dự tính, lượng tiền thu về từ doanh thu bán hàng không đủ để bù đắp dòng tiền ra trả nợ nhà cung cấp, buộc doanh nghiệp phải rút ngắn chu kỳ tiền mặt bằng cách vay ngắn hạn ngân hàng, làm phát sinh chi phí lãi vay không có trong kế hoạch tài chính ban đầu.

Tích hợp chỉ số phế phẩm vào hệ thống đo lường hiệu suất tổng thể thông qua bản đồ chiến lược và các chỉ số tài chính – vận hành cốt lõi đòi hỏi phải thiết lập mối liên kết nhân quả rõ ràng giữa tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư (Return on Invested Capital) và tỷ lệ thu hồi phế phẩm trên sàn sản xuất. Nếu chỉ số phế phẩm chỉ nằm trong báo cáo của phòng kỹ thuật chất lượng mà không được liên kết trực tiếp với chỉ số biên lợi nhuận ròng của từng giám đốc nhà máy, hệ thống đo lường sẽ bị phân mảnh. Ban điều hành sẽ tiếp tục thưởng cho các quản lý đạt chỉ tiêu sản lượng mà vô tình khuyến khích việc che giấu phế phẩm hoặc đẩy phế phẩm sang công đoạn tiếp theo để giữ đẹp số liệu đầu ra trong ngắn hạn.

See also  Tài chính/Kế toán: TSCĐ đưa vào khi chưa hoàn thành thủ tục. (0098)

Kiến trúc dữ liệu và tự động hóa giám sát thông qua việc triển khai kiểm soát phế phẩm thời gian thực (Real-time Scrap Tracking) là điều kiện kỹ thuật bắt buộc để ngăn chặn sự thất thoát dòng tiền. Thay vì đợi đến cuối tháng để kiểm kê kho và phân bổ chênh lệch kiểm kê vào chi phí sản xuất, hệ thống kế toán quản trị hiện đại yêu cầu ghi nhận phế phẩm ngay tại trạm làm việc thông qua mã vạch hoặc thiết bị cảm biến kết nối trực tiếp với hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp. Dữ liệu thời gian thực này cho phép kế toán chi phí tính toán ngay lập tức tác động của phế phẩm lên giá thành biên, giúp ban giám đốc phát hiện sự cố lệch chuẩn kỹ thuật chỉ sau vài giờ chứ không phải sau vài tuần.

Đánh giá lại năng lực điều độ sản xuất (Production Scheduling) làm sáng tỏ hệ quả tài chính nặng nề của việc sản xuất thừa (Over-production). Khi phòng kế hoạch sản xuất phát hành lệnh sản xuất vượt quá nhu cầu thực tế của đơn hàng với lý do dự phòng tỷ lệ phế phẩm, doanh nghiệp vô tình tự tạo ra áp lực tài chính kép. Nếu tỷ lệ phế phẩm thực tế thấp hơn dự kiến phòng thủ, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng sản xuất thừa thành phẩm, dẫn đến ứ đọng vốn lưu động trong kho thành phẩm chậm luân chuyển. Ngược lại, nếu tỷ lệ phế phẩm cao hơn dự kiến, lượng nguyên vật liệu bổ sung phải mua gấp bằng giá đắt để bù đắp sẽ làm vỡ kế hoạch ngân sách dòng tiền.

Xử lý bài toán thương mại hóa phế phẩm (Scrap Monetization) đòi hỏi sự chuyển đổi tư duy từ việc coi phế phẩm là rác thải cần tống khứ sang việc coi đó là một dòng doanh thu phụ trợ cần quản lý chặt chẽ. Phế liệu kim loại, nhựa tái chế hay hóa chất thu hồi từ quá trình sản xuất đều có giá trị thị trường độc lập. Kế toán quản trị phải thiết lập hệ thống ghi nhận giá trị thuần có thể thực hiện được của phế phẩm ngay tại thời điểm phát sinh, ghi nhận vào tài khoản giảm giá vốn hàng bán hoặc thu nhập khác tùy theo bản chất. Sự thiếu minh bạch trong việc cân, đo và bán phế liệu cho các đơn vị thu mua bên ngoài là một trong những điểm rò rỉ dòng tiền dễ bị bỏ qua nhất nếu không có sự giám sát độc lập giữa bộ phận kho, bộ phận bán phế liệu và bộ phận kế toán thanh toán.

Tái cấu trúc quy trình kiểm soát chất lượng gắn liền với mô hình trách nhiệm chi phí và biên lợi nhuận ròng đòi hỏi phải trao quyền cho kiểm soát viên chất lượng dừng dây chuyền ngay lập tức khi tỷ lệ lỗi vượt ngưỡng kiểm soát thống kê, bất chấp áp lực hoàn thành chỉ tiêu sản lượng của bộ phận thương mại. Mô hình trách nhiệm này xóa bỏ ranh giới ảo giữa phòng sản xuất và phòng chất lượng, buộc hai bộ phận này phải cùng chịu chung một chỉ số hiệu suất gắn liền với tỷ lệ giá thành phế phẩm trên tổng giá trị sản xuất.

Chuyển hóa chiến lược quản trị phế phẩm thông qua khung định hướng mục tiêu, hành động và đo lường hệ thống đòi hỏi ban lãnh đạo phải biến các con số tài chính khô khan thành các hành vi vận hành cụ thể trên sàn nhà xưởng. Mục tiêu giảm tỷ lệ phế phẩm xuống dưới một phần trăm không thể đạt được bằng những lời kêu gọi chung chung, mà phải được cụ thể hóa bằng các hành động như thay mới dao cắt định kỳ sau mỗi năm trăm chu kỳ gia công, kiểm định độ chính xác của cảm biến nhiệt độ hàng tuần, và gắn thu nhập biến đổi của kỹ sư vận hành với tỷ lệ thu hồi nguyên vật liệu.

Quản trị rủi ro pháp lý, môi trường và tiêu chuẩn liên quan đến dòng đời xử lý phế phẩm công nghiệp đặt doanh nghiệp trước những nghĩa vụ tài chính tiềm ẩn rất lớn. Phế phẩm không chỉ đơn thuần là mất tiền mua nguyên liệu mà còn mang theo chi phí xử lý chất thải nguy hại theo các quy định môi trường hiện hành. Một doanh nghiệp hạch toán thiếu chi phí xử lý phế phẩm độc hại trên báo cáo tài chính sẽ đối mặt với rủi ro bị truy thu chi phí xử lý môi trường, phạt hành chính, hoặc thậm chí bị đình chỉ hoạt động, làm tê liệt hoàn toàn khả năng tạo dòng tiền để trả nợ vay ngân hàng.

Đánh đổi chiến lược giữa chi phí đầu tư công nghệ chống phế phẩm và biên lợi nhuận dài hạn của doanh nghiệp là một bài toán cân não đòi hỏi tư duy tài chính dài hạn. Đầu tư vào hệ thống kiểm tra quang học tự động bằng trí tuệ nhân tạo để phát hiện lỗi từ sớm đòi hỏi một khoản chi tiêu vốn lớn ban đầu, làm gia tăng chi phí khấu hao và làm giảm lợi nhuận kế toán trong ngắn hạn. Tuy nhiên, đánh đổi này là bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn bảo vệ biên lợi nhuận ròng trong dài hạn trước áp lực cạnh tranh về giá và tiêu chuẩn chất lượng khắt khe từ thị trường.

Tên chỉ sốCông thứcÝ nghĩaCách đọc sai phổ biếnNgưỡng cảnh báo kèm điều kiện
Tỷ lệ phế phẩm giá trịTổng giá trị phế phẩm chia tổng chi phí sản xuất thực tế, nhân một trămĐo lường mức độ thất thoát tài nguyên đầu vào tính bằng giá trị tiền tệChỉ nhìn vào trọng lượng phế phẩm mà bỏ qua giá trị gia công đã tích lũy bên trongVượt quá hai phần trăm tổng chi phí sản xuất trong điều kiện sản xuất ổn định
Vòng quay tồn kho phế liệuGiá vốn phế liệu tiêu thụ chia tồn kho phế liệu bình quânĐo lường tốc độ xử lý và thu hồi tiền mặt từ kho phế liệuCoi tồn kho phế phẩm là tài sản có tính thanh khoản cao như thành phẩmDưới sáu lần một năm trong điều kiện thị trường thu mua bình thường
Tác động phế phẩm lên biên gộpGiá trị phế phẩm hủy bỏ chia tổng doanh thu thuần, nhân một trămĐo lường mức độ xói mòn khả năng sinh lời gộp của doanh nghiệpCoi chi phí phế phẩm là chi phí quản lý doanh nghiệp thay vì giá vốn hàng bánVượt quá một phần trăm doanh thu thuần đối với ngành sản xuất lắp ráp
See also  QUẢN TRỊ THANH KHOẢN: CHIẾN LƯỢC TỐI ƯU DÒNG TIỀN VÀ NGHỆ THUẬT BIẾN TÍNH THANH KHOẢN THÀNH VŨ KHÍ TẤN CÔNG THỊ TRƯỜNG CHO NHÀ ĐIỀU HÀNH THÔNG THÁI (0640)

Bảng này giúp ban lãnh đạo định lượng chính xác mức độ xói mòn biên lợi nhuận do phế phẩm gây ra để quyết định thời điểm dừng dây chuyền bảo trì.

Sự kiện vận hànhTác động lên số liệu kế toánTác động lên dòng tiềnTác động chiến lược
Tỷ lệ phế phẩm tăng đột biến tại nút thắtGhi nhận tăng chi phí sản xuất chung hoặc giảm giá trị hàng tồn kho dở dangDòng tiền ra tăng do phải mua bổ sung nguyên vật liệu gấp để bù đắpSuy giảm năng lực giao hàng đúng hạn, mất uy tín với khách hàng chiến lược
Che giấu phế phẩm sang kỳ sauSai lệch số dư hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toánỨng trước dòng tiền cho chi phí nhân công và nguyên liệu không tạo ra doanh thuLàm sai lệch toàn bộ cơ sở dữ liệu để ra quyết định đầu tư mở rộng năng lực
Thương mại hóa phế liệu hiệu quảGhi nhận tăng thu nhập khác hoặc giảm giá vốn hàng bánDòng tiền vào được cải thiện từ việc thu hồi giá trị tài sản thải loạiNâng cao chỉ số phát triển bền vững và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường

Bảng này giúp bộ phận tài chính vạch rõ chuỗi lan truyền từ một sự cố kỹ thuật nhỏ trên sàn nhà xưởng thành thảm họa thanh khoản trên bảng cân đối kế toán.

Điều kiệnLựa chọnNgưỡng kích hoạtCái phải hy sinh
Tỷ lệ phế phẩm vượt ngưỡng kiểm soát kỹ thuậtDừng toàn bộ dây chuyền để bảo trì lớnTỷ lệ lỗi vượt ba phần trăm trong hai ca sản xuất liên tụcHy sinh sản lượng ngắn hạn và chỉ tiêu doanh thu kỳ kế toán đó
Chi phí đầu tư máy kiểm tra tự động cao hơn giá trị phế phẩmTiếp tục duy trì kiểm tra thủ công bằng con ngườiChi phí đầu tư vượt quá ba lần giá trị phế phẩm tiết kiệm được trong ba nămChấp nhận rủi ro sai sót do yếu tố con người và tỷ lệ khiếu nại từ khách hàng
Giá nguyên vật liệu đầu vào biến động mạnh làm tăng giá trị phế phẩmKý hợp đồng cung ứng dài hạn có điều chỉnh biên độ giáBiến động giá nguyên liệu vượt mười lăm phần trăm trong một quýHy sinh sự linh hoạt trong việc thay đổi nhà cung cấp để ép giá ngắn hạn

Bảng này giúp hội đồng quản trị đưa ra quyết định đánh đổi giữa chi phí đầu tư công nghệ và rủi ro vận hành.

Những việc cần làm:

Việc 1: Kế toán trưởng rà soát lại toàn bộ quy trình hạch toán chi phí phế phẩm để đảm bảo không còn tình trạng phân bổ đều chi phí phế phẩm vào giá thành sản phẩm tốt.

Việc 2: Giám đốc sản xuất thiết lập hệ thống ghi nhận phế phẩm thời gian thực tại từng trạm gia công thay vì chờ đến cuối tháng kiểm kê kho.

Việc 3: Trưởng phòng kiểm soát chất lượng phối hợp với bộ phận tài chính tính toán lại biên độ giá thành thực tế bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu bị tổn thất.

Việc 4: Ban điều hành tái cấu trúc chỉ số đánh giá hiệu suất của quản đốc nhà máy, gắn trực tiếp thu nhập biến đổi với tỷ lệ thu hồi nguyên vật liệu.

Việc 5: Bộ phận thu mua đàm phán lại với các nhà cung cấp nguyên vật liệu về tiêu chuẩn dung sai kỹ thuật để giảm thiểu tỷ lệ lỗi đầu vào.

Việc 6: Kế toán quản trị lập báo cáo dòng tiền riêng biệt cho các dòng sản phẩm có tỷ lệ phế phẩm cao để đánh giá chính xác mức độ giam giữ vốn lưu động.

Việc 7: Giám đốc vận hành triển khai quy trình dừng máy bắt buộc khi tỷ lệ lỗi vượt ngưỡng kiểm soát thống kê, loại bỏ tư duy chạy đua sản lượng bằng mọi giá.

Việc 8: Bộ phận pháp chế và môi trường rà soát lại toàn bộ quy trình xử lý phế phẩm nguy hại để loại bỏ rủi ro bị phạt hành chính và truy thu chi phí.

Việc 9: Hội đồng quản trị phê duyệt ngân sách đầu tư cho công nghệ kiểm tra tự động tại các nút thắt sản xuất trọng yếu dựa trên phân tích chi phí biên.

Việc 10: Kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm tra đột xuất quy trình cân, đo và thanh lý phế liệu để bịt kín các điểm rò rỉ doanh thu phụ trợ.