
Ban điều hành doanh nghiệp thường nhìn vào báo cáo kết quả kinh doanh định kỳ và thấy biên lợi nhuận gộp rất cao, nhưng tài khoản ngân hàng cứ cạn dần sau mỗi đợt tăng sản lượng sản xuất.
Cách hiểu sai phổ biến là cho rằng cứ sản xuất nhiều thì giá thành đơn vị sẽ giảm xuống do định phí được pha loãng, từ đó làm tăng lợi nhuận kế toán và tạo ra thêm nguồn lực tài chính.
Luận đề trung tâm của bài viết này là giá thành toàn bộ (Absorption Costing) coi định phí sản xuất như một bộ phận của tài sản hàng tồn kho thay vì chi phí thời kỳ, biến nhà máy thành một cỗ máy tạo lợi nhuận ảo trên sổ sách thông qua việc dồn chi phí vào kho, trong khi dòng tiền thực tế đã chảy ra ngoài để trả cho chi phí nhân công và nguyên vật liệu trực tiếp, ngoại trừ trường hợp sản lượng tiêu thụ bằng hoặc lớn hơn sản lượng sản xuất trong kỳ.
Bản chất cấu trúc và hệ lụy hệ thống của phương pháp tính giá thành toàn bộ trong kiến trúc tài chính doanh nghiệp nằm ở chỗ phương pháp này kết hợp toàn bộ chi phí sản xuất, bao gồm cả biến phí và định phí, vào giá trị của từng sản phẩm được tạo ra.
Dưới lăng kính tài chính, cấu trúc này làm cho giá vốn hàng bán chỉ phản ánh chi phí khi sản phẩm thực sự được bán ra, trong khi phần chi phí cố định tương ứng với lượng hàng tồn kho cuối kỳ sẽ được treo lại trên bảng cân đối kế toán dưới dạng tài sản.
Dưới lăng kính vận hành, nhà máy được khuyến khích chạy hết công suất để đẩy chi phí cố định trên mỗi đơn vị xuống mức thấp nhất, bỏ qua thực tế là thị trường có tiêu thụ hết sản lượng đó hay không.
Dưới lăng kính rủi ro, hệ thống này tạo ra một sự đánh đổi nguy hiểm giữa việc làm đẹp báo cáo kết quả kinh doanh ngắn hạn và việc tiêu hủy dòng tiền dài hạn.
Luận điểm này chỉ đảo chiều khi doanh nghiệp hoạt động trong một thị trường có sức cầu tuyệt đối ổn định và sản lượng tiêu thụ luôn bằng sản lượng sản xuất trong mọi kỳ kế toán, một kịch bản gần như không tồn tại trong thực tế thương mại.
Giải phẫu các thành phần chi phí sản xuất đòi hỏi phải tách bạch rõ ràng giữa định phí sản xuất chung (Manufacturing Overhead) và biến phí khả biến (Variable Costs) dưới lăng kính phân bổ.
Biến phí bao gồm nguyên vật liệu trực tiếp và nhân công trực tiếp, là những khoản chi phí tỷ lệ thuận với số lượng sản phẩm được sản xuất ra.
Định phí sản xuất chung bao gồm khấu hao nhà xưởng, máy móc, lương bộ phận quản lý phân xưởng, chi phí bảo trì định kỳ, những khoản chi không đổi về mặt tổng số dù nhà máy sản xuất một sản phẩm hay chạy hết công suất thiết kế.
Khi áp dụng phương pháp giá thành toàn bộ, kế toán gom toàn bộ định phí sản xuất chung này vào nhóm chi phí có thể được vốn hóa, tức là biến thành một phần giá trị của hàng tồn kho.
Quan sát nghề nghiệp cho thấy trong các doanh nghiệp sản xuất cơ khí chính xác hoặc dệt may quy mô vừa, tỷ trọng định phí sản xuất chung thường chiếm từ 30% đến 50% tổng chi phí sản xuất, tạo ra một đòn bẩy khổng lồ lên giá trị sổ sách của hàng tồn kho khi lượng sản xuất vượt xa lượng bán.
Cơ chế phân bổ định phí sản xuất chung tạo ra những điểm mù chết người trong việc bóp méo biên lợi nhuận gộp thông qua công thức phân bổ lấy tổng định phí sản xuất ước tính trong kỳ chia cho mức sản lượng hoạt động danh định để ra suất phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm.
Điểm mù xuất hiện khi ban quản lý nhìn vào biên lợi nhuận gộp cao trên báo cáo tài chính mà không nhận ra rằng một phần đáng kể lợi nhuận đó thực chất không đến từ việc bán hàng hiệu quả, mà đến từ việc chi phí cố định của kỳ này đã được cất giấu an toàn trong kho dưới dạng giá trị hàng tồn kho chưa bán.
Về mặt tài chính, lợi nhuận gộp bị thổi phồng giả tạo.
Về mặt vận hành, đội ngũ sản xuất được thưởng dựa trên sản lượng đầu ra, tạo động lực sản xuất dư thừa để hạ giá thành đơn vị trên giấy tờ.
Về mặt rủi ro, khi thị trường chững lại và hàng tồn kho buộc phải bán tháo hoặc trích lập dự phòng giảm giá, toàn bộ khoản chi phí cố định bị cất giấu đó sẽ quay trở lại trực tiếp vào kết quả kinh doanh, gây ra cú sốc lợi nhuận trầm trọng.
Mối quan hệ nhân quả giữa công suất thiết kế, sản lượng thực tế và hiện tượng hấp thụ chi phí (Absorption/Under-absorption/Over-absorption) quyết định trực tiếp đến biến động của giá vốn.
Khi sản lượng thực tế sản xuất ra thấp hơn đáng kể so với công suất thiết kế được dùng làm cơ sở phân bổ, hiện tượng chưa hấp thụ hết chi phí (under-absorption) xảy ra, để lại một khoản định phí chưa được phân bổ hết vào sản phẩm.
Theo chuẩn mực thông thường, khoản chênh lệch này phải được tính thẳng vào giá vốn hàng bán trong kỳ, làm sụt giảm lợi nhuận gộp ngay lập tức.
Ngược lại, khi sản lượng thực tế vượt công suất thiết kế, hiện tượng hấp thụ thừa (over-absorption) xảy ra, làm cho giá vốn hàng bán trong kỳ thấp hơn chi phí thực tế phát sinh, tạo ra một khoản lợi nhuận bất thường trên sổ sách.
Tình huống tổng hợp, số liệu minh họa: Một nhà máy có định phí sản xuất chung cố định là 1.000 triệu đồng mỗi tháng, công suất thiết kế là 10.000 sản phẩm, suất phân bổ định phí là 100.000 đồng một sản phẩm.
Trong tháng một, nhà máy chỉ sản xuất 5.000 sản phẩm do thị trường ế ẩm, nhưng suất phân bổ vẫn giữ nguyên, khiến tổng định phí được vốn hóa vào 5.000 sản phẩm là 500 triệu đồng, còn 500 triệu đồng định phí chưa được hấp thụ phải tính thẳng vào chi phí sản xuất trong kỳ.
Nếu nhà máy cố tình sản xuất đủ 10.000 sản phẩm dù chỉ bán được 5.000 sản phẩm, toàn bộ 1.000 triệu đồng định phí được phân bổ cho 10.000 sản phẩm, 500 triệu đồng định phí nằm lại trong 5.000 sản phẩm tồn kho cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán, giúp báo cáo kết quả kinh doanh của tháng đó gánh ít chi phí hơn 500 triệu đồng, làm lợi nhuận trông có vẻ cao hơn thực tế đúng bằng con số đó.
Xung đột lợi ích giữa kế toán tài chính tuân thủ chuẩn mực và quản trị chiến lược dựa trên chi phí biên (Marginal Costing) tạo ra sự giằng co liên tục trong phòng họp chiến lược.
Kế toán tài chính bắt buộc phải dùng phương pháp giá thành toàn bộ để lập báo cáo nộp cơ quan thuế và công bố ra bên ngoài, nhằm tuân thủ nguyên tắc dồn tích và phù hợp.
Tuy nhiên, khi bộ phận phát triển kinh doanh muốn đưa ra một mức giá chiết khấu để thâm nhập thị trường mới, việc sử dụng số liệu giá thành toàn bộ sẽ dẫn đến quyết định từ chối sai lầm vì tưởng rằng giá bán thấp hơn giá thành đơn vị sẽ gây lỗ.
Thực tế quản trị chiến lược đòi hỏi phải nhìn vào chi phí biên, bao gồm biến phí nguyên vật liệu và nhân công trực tiếp, để quyết định xem đơn hàng mới có đủ bù đắp chi phí gia tăng và đóng góp một phần vào việc trang trải định phí hay không.
Đánh đổi ở đây là doanh nghiệp phải duy trì two hệ thống sổ sách hoặc chấp nhận rủi ro dùng sai số liệu tài chính công khai cho các quyết định thương mại mang tính chiến thuật ngắn hạn.
Tác động dây chuyền của giá thành toàn bộ lên quyết định định giá sản phẩm trong thị trường cạnh tranh khốc liệt thường đẩy doanh nghiệp vào vòng xoáy tử thần của việc tăng giá bán khi cầu giảm.
Khi thị trường sụt giảm, sản lượng sản xuất thực tế giảm theo, làm cho chi phí cố định tính trên mỗi đơn vị sản phẩm tăng vọt nếu dùng phương pháp giá thành toàn bộ.
Nếu ban giám đốc áp dụng quy tắc định giá truyền thống bằng cách lấy giá thành toàn bộ cộng thêm biên lợi nhuận mong muốn, giá bán sản phẩm sẽ phải tăng lên trong lúc sức mua của thị trường đang suy yếu.
Về mặt tài chính, việc tăng giá này làm giảm doanh thu tiêu thụ.
Về mặt vận hành, nhà máy tiếp tục phải cắt giảm sản lượng vì hàng không bán được, làm cho định phí đơn vị tiếp tục tăng cao hơn nữa ở kỳ sau.
Về mặt rủi ro, doanh nghiệp tự tay bóp nghẹt thị phần của mình chỉ vì bám vào một con số giá thành bị bóp méo bởi biến động công suất nhà máy.
Bẫy tăng trưởng ảo xuất hiện rõ nét khi lượng hàng tồn kho cuối kỳ che giấu sự suy kiệt dòng tiền và kém hiệu quả vận hành.
Doanh nghiệp có thể báo cáo lợi nhuận tăng trưởng liên tục trong ba quý liên tiếp, thưởng lớn cho ban điều hành, trong khi hạn mức tín dụng tại ngân hàng đã cạn kiệt và các nhà cung cấp bắt đầu đòi rút ngắn thời gian thanh toán.
Cơ chế của cái bẫy này nằm ở chỗ tiền mặt đã được dùng để mua nguyên vật liệu, trả lương công nhân sản xuất hàng hóa và các chi phí cố định bằng tiền khác, nhưng những chi phí này không nằm trên báo cáo kết quả kinh doanh dưới dạng giá vốn mà lại nằm im lìm trên bảng cân đối kế toán dưới dạng hàng tồn kho.
Quan sát nghề nghiệp cho thấy nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nhanh rơi vào trạng thái phá sản kỹ thuật trong khi trên sổ sách kế toán vẫn ghi nhận lãi lớn, chỉ vì dòng tiền kinh doanh thuần âm liên tục do vốn lưu động bị kẹt chết trong kho hàng chậm luân chuyển.
Tích hợp giá thành toàn bộ vào chuỗi giá trị và hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) đòi hỏi sự minh bạch tuyệt đối trong việc tách biệt các dòng thông tin.
Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp thường được cấu hình sẵn để tự động phân bổ định phí sản xuất chung dựa trên giờ máy chạy nhân công hoặc định mức tiêu chuẩn.
Nếu các tham số đầu vào này không được cập nhật kịp thời khi công suất thực tế thay đổi, hệ thống sẽ tự động tạo ra những bút toán phân bổ sai lệch chạy ngầm qua hàng vạn dòng dữ liệu giao dịch.
Đội ngũ tài chính phải thiết lập các báo cáo đối chiếu chéo giữa số dư hàng tồn kho trên sổ cái kế toán và biên bản kiểm kê vật lý thực tế tại kho, đồng thời theo dõi sát sao chỉ số vòng quay hàng tồn kho để phát hiện sớm các dấu hiệu định phí bị vốn hóa quá mức.
Phân tích độ nhạy của biên lợi nhuận khi biến động công suất nhà máy trong các ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn như xi mạn, thép, hoặc hóa chất cho thấy một sự nhạy cảm cực đoan.
Trong các ngành này, tỷ trọng định phí chiếm tới 70% đến 80% tổng chi phí sản xuất do tài sản cố định băng chuyền nhà xưởng có giá trị khổng lồ.
Khi công suất khai thác nhà máy giảm từ 90% xuống 70%, giá thành toàn bộ của mỗi đơn vị sản phẩm tăng lên một biên độ đủ để quét sạch toàn bộ biên lợi nhuận gộp thông thường.
Bảng chỉ số dưới đây tổng hợp các thước đo cốt lõi để kiểm soát rủi ro từ phương pháp tính giá thành toàn bộ:
| Tên chỉ số | Công thức | Ý nghĩa | Cách đọc sai phổ biến | Ngưỡng cảnh báo kèm điều kiện |
| :— | :— | :— | :— | :— |
| Tỷ suất sinh lời tồn kho thực tế | Lợi nhuận gộp thực tế chia cho giá trị hàng tồn kho bình quân | Đo lường hiệu quả sinh lời của đồng vốn kẹt trong kho | Nghĩ rằng tồn kho lớn là tài sản an toàn và chắc chắn sinh lời | Dưới 15% khi thị trường có xu hướng thu hẹp cầu |
| Hệ số hấp thụ định phí | Tổng định phí thực tế đã được phân bổ chia cho tổng định phí thực tế phát sinh | Đánh giá mức độ khai thác công suất thực tế của nhà máy | Cho rằng hệ số dưới 100% là do kế toán tính toán sai sót | Dưới 85% kéo dài trong hai quý liên tiếp |
| Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt | Số ngày thu tiền cộng số ngày tồn kho trừ số ngày trả tiền | Đo lường thời gian tiền mặt bị kẹt trong chu trình kinh doanh | Chỉ nhìn vào lợi nhuận kế toán mà bỏ quên số ngày tồn kho tăng | Tăng trên 90 ngày đối với ngành sản xuất thông thường |
Bảng này giúp ban giám đốc quyết định khi nào cần dừng ngay việc sản xuất để tích trữ tồn kho và chuyển sang chiến lược thu hẹp quy mô hoạt động để bảo vệ dòng tiền thuần.
Tái thiết kế mô hình báo cáo quản trị nội địa nhằm triệt tiêu các quyết định sai lầm phát sinh từ số liệu giá thành toàn bộ bề mặt đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống báo cáo song song.
Bên cạnh báo cáo tài chính tuân thủ chuẩn mực dùng cho cơ quan bên ngoài, báo cáo quản trị nội bộ phải áp dụng phương pháp chi phí trực tiếp hoặc chi phí biến đổi để đánh giá hiệu quả từng dòng sản phẩm.
Trong mô hình báo cáo mới này, định phí sản xuất chung không bị phân bổ vào từng sản phẩm riêng lẻ mà được gom thành một khoản mục tổng chi phí cố định trừ thẳng vào tổng số dư đảm phí của toàn doanh nghiệp trong kỳ.
Cách làm này giúp người ra quyết định thấy rõ biên độ đóng góp thực sự của từng sản phẩm mà không bị nhiễu loạn bởi ảo ảnh phân bổ định phí theo sản lượng sản xuất.
Định hình chiến lược phân bổ nguồn lực dựa trên ma trận rủi ro chi phí cố định và biên độ dao động của cầu thị trường yêu cầu doanh nghiệp phải phân loại rõ ràng danh mục sản phẩm.
Những sản phẩm có tỷ trọng định phí cao và cầu thị trường biến động mạnh không bao giờ được phép sản xuất theo dự báo lạc quan để tận dụng giá thành toàn bộ thấp trên giấy.
Bảng quyết định dưới đây minh họa khung lựa chọn chiến lược dựa trên các biến số cốt lõi:
| Điều kiện | Lựa chọn | Ngưỡng kích hoạt | Cái phải hy sinh |
| :— | :— | :— | :— |
| Cầu thị trường suy giảm và định phí chiếm trên 60% tổng chi phí | Cắt giảm ngay 30% công suất sản xuất, chấp nhận chi phí chưa hấp thụ | Tồn kho tăng trên 45 ngày so với mức chuẩn lịch sử | Lợi nhuận kế toán kỳ tới sụt giảm mạnh do hạch toán chi phí chưa hấp thụ |
| Cầu thị trường ổn định nhưng cạnh tranh về giá khốc liệt | Chuyển sang định giá theo chi phí biên cho đơn hàng lớn | Giá thị trường thấp hơn giá thành toàn bộ nhưng cao hơn biến phí | Biên lợi nhuận gộp trên báo cáo tài chính bị thu hẹp đáng kể |
| Cầu thị trường tăng trưởng mạnh vượt công suất thiết kế | Tăng ca sản xuất, thuê gia công ngoài thay vì đầu tư tài sản cố định mới | Tỷ lệ khai thác công suất vượt 100% liên tục trong một quý | Chi phí nhân công trực tiếp tăng cao do làm thêm giờ |
Bảng này giúp hội đồng quản trị quyết định việc phân bổ vốn đầu tư và lựa chọn phương án vận hành nhà máy mà không bị đánh lừa bởi lợi nhuận kế toán giả tạo.
Xóa bỏ ảo tưởng về điểm hòa vốn tĩnh là bước đi bắt buộc để sinh tồn trong các chu kỳ kinh tế biến động.
Điểm hòa vốn tính theo phương pháp truyền thống thường dựa vào giá thành toàn bộ đơn vị, giả định rằng định phí phân bổ trên mỗi sản phẩm là một hằng số cố định bất chấp sản lượng thực tế tiêu thụ ra sao.
Khi thị trường sụt giảm 30%, sản lượng thực tế giảm, nếu vẫn dùng điểm hòa vốn tĩnh đó để hoạch định doanh thu, ban lãnh đạo sẽ liên tục đặt ra những chỉ tiêu kinh doanh sai lệch hoàn toàn so với thực tế dòng tiền.
Điểm hòa vốn động phải được tính bằng cách lấy tổng định phí chia cho số dư đảm phí đơn vị, trong đó giá vốn hàng bán chỉ bao gồm biến phí khả biến.
Thiết lập hàng rào kiểm soát tài chính vận hành để đối phó với những cú sốc biên lợi nhuận do phân bổ sai định phí đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của kiểm soát viên tài chính độc lập với bộ phận sản xuất.
Mọi quyết định điều chỉnh định mức phân bổ định phí sản xuất chung trong kỳ kế toán phải được phê duyệt bởi giám đốc tài chính dựa trên biên bản kiểm kê công suất thực tế.
Chênh lệch giữa định phí thực tế phát sinh và định phí được phân bổ vào sản phẩm phải được theo dõi trên một tài khoản riêng biệt và bắt buộc phải giải trình nguyên nhân biến động trước hội đồng quản trị vào ngày kết thúc mỗi tháng.
Hàng rào này ngăn chặn triệt để thói quen âm thầm điều chỉnh thông số kỹ thuật để làm đẹp giá thành đơn vị.
Kiến trúc lại hệ thống chỉ số đo lường hiệu suất gắn liền với hiệu quả sử dụng tài sản và năng lực hấp thụ chi phí nhằm định hướng lại hành vi của toàn bộ cấp quản lý vận hành.
Thay vì thưởng cho giám đốc nhà máy dựa trên tiêu chí tối ưu hóa giá thành đơn vị theo phương pháp giá thành toàn bộ – một tiêu chí khuyến khích sản xuất thừa hàng tồn kho, hệ thống chỉ số mới phải gắn kết tiền thưởng với vòng quay hàng tồn kho, tỷ lệ dòng tiền tự do tạo ra từ hoạt động kinh doanh và hệ số hấp thụ định phí thực tế.
Nếu lượng hàng tồn kho tăng vượt ngưỡng an toàn do sản xuất không có đơn đặt hàng, thu nhập của ban quản lý nhà máy sẽ bị giảm trừ tương ứng với chi phí vốn lưu động bị chôn vùi.
Tối ưu hóa hóa đơn tài chính và quyết định chiến lược rút lui hoặc mở rộng dòng sản phẩm đòi hỏi phải nhìn thấu bản chất thực của giá thành toàn bộ.
Bảng chuỗi lan truyền dưới đây mô tả sự dịch chuyển từ một quyết định vận hành sai lầm đến hệ quả chiến lược cuối cùng:
| Sự kiện vận hành | Tác động lên số liệu kế toán | Tác động lên dòng tiền | Tác động chiến lược |
| :— | :— | :— | :— |
| Tăng sản lượng sản xuất vượt xa nhu cầu thực tế của thị trường | Giá thành đơn vị giảm trên sổ sách, lợi nhuận gộp tăng ảo | Tiền mặt chảy ra để trả nguyên vật liệu và nhân công, dòng tiền thuần âm | Doanh nghiệp tưởng lầm sản phẩm đang rất thành công và tiếp tục đầu tư mở rộng |
| Hàng tồn kho ứ đọng dài ngày trong kho nhà máy | Giá trị tài sản ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán tăng lên | Hoàn toàn không có tiền thu về, vốn lưu động bị bóp nghẹt | Mất khả năng thanh khoản ngắn hạn, phụ thuộc nặng nề vào vốn vay ngân hàng |
| Ngân hàng siết hạn mức tín dụng, buộc phải chiết khấu bán tháo tồn kho | Trích lập dự phòng giảm giá, toàn bộ định phí cất giấu quay lại làm lỗ lớn | Dòng tiền thu về thấp hơn nhiều so với giá trị sổ sách đã ghi nhận | Buộc phải thu hẹp quy mô hoạt động, bán bớt tài sản cốt lõi để trả nợ |
Bảng này giúp tổng giám đốc nhìn rõ toàn bộ chuỗi nhân quả, từ một quyết định sản xuất thừa ở phân xưởng cho đến thảm họa thanh khoản trên bàn đàm phán với chủ nợ.
Việc 1: Kiểm toán lại toàn bộ phương pháp phân bổ định phí sản xuất chung hiện đang được áp dụng trong phần mềm quản lý doanh nghiệp, dưới sự chủ trì của Kế toán trưởng và Kiểm soát viên tài chính, hoàn thành trong vòng mười lăm ngày làm việc với tiêu chí không còn khoản định phí nào được vốn hóa sai lệch so với công suất thực tế.
Việc 2: Xây dựng báo cáo quản trị nội bộ song song sử dụng phương pháp chi phí biến đổi cho tất cả các quyết định định giá ngắn hạn, do Giám đốc Tài chính phụ trách, hoàn thành trong một tháng với tiêu chí được ban điều hành sử dụng chính thức trong mọi cuộc họp thương mại.
Việc 3: Thiết lập ngưỡng cảnh báo sớm đối với chỉ số vòng quay hàng tồn kho và hệ số hấp thụ định phí, do Trưởng phòng Kiểm soát Nội bộ thực hiện, cập nhật hàng tuần với tiêu chí kích hoạt ngay lập tức lệnh dừng sản xuất khi hệ số hấp thụ giảm dưới 85%.
Việc 4: Tách rời hoàn toàn tiêu chí đánh giá hiệu suất của ban quản lý nhà máy ra khỏi chỉ số giá thành đơn vị toàn bộ, do Giám đốc Nhân sự phối hợp với Giám đốc Tài chính thực hiện, hoàn thành trước kỳ đánh giá hiệu suất quý tới với tiêu chí gắn 50% tiền thưởng vào dòng tiền thuần từ tồn kho.
Việc 5: Rà soát lại toàn bộ danh mục sản phẩm đang sản xuất để xác định chính xác biên độ đóng góp dựa trên chi phí biên, do Trưởng phòng Phân tích Kinh doanh chủ trì, hoàn thành trong ba tuần với tiêu chí loại bỏ hoặc tái định giá các dòng sản phẩm đang ngốn dòng tiền.
Việc 6: Thiết lập quy trình phê duyệt đặc biệt đối với mọi quyết định tăng ca sản xuất vượt mức kế hoạch tiêu thụ đã được xác thực, do Tổng Giám đốc trực tiếp ký duyệt với tiêu chí phải có cam kết bao tiêu đầu ra bằng văn bản từ bộ phận thương mại.
Việc 7: Thực hiện đối chiếu chéo hàng tháng giữa số liệu hàng tồn kho trên sổ cái kế toán và biên bản kiểm kê thực tế tại các kho, do Kế toán trưởng và Trưởng bộ phận Kho thực hiện, hoàn thành trước ngày mùng 5 hàng tháng với tiêu chí chênh lệch phải bằng không hoặc được giải trình nguyên nhân bằng văn bản.
Việc 8: Tái cấu trúc lại mô hình tính điểm hòa vốn nội bộ từ tĩnh sang động, do Giám đốc Tài chính thực hiện, hoàn thành trong hai tuần với tiêu chí phản ánh chính xác tác động của biến động công suất nhà máy lên điểm hòa vốn tài chính.
