Skip to content
Rủi ro & tuân thủ

Văn hóa quản trị rủi ro: Đánh đổi chiến lược và bảo toàn vốn (0019)

18 min read

Kinh doanh Bất động sản - KINH DOANH BĐS – QUẢN TRỊ RỦI RO, PHÁP CHẾ & TUÂN THỦ

Một dự án bất động sản đã bán chín mươi phần trăm sản phẩm và bàn giao nhà cho người mua, nhưng sau đó nghĩa vụ tài chính về đất được xác định lại tăng thêm mười lăm phần trăm doanh thu theo kết luận thanh tra, trong khi dòng tiền của chủ đầu tư đã được phân bổ hết cho các dự án gối đầu khác và các khoản đáo hạn trái phiếu. Niềm tin phổ biến rằng khi sản phẩm đã được cấp giấy chứng nhận cho người mua hoặc khi dự án đã hoàn thành nghĩa vụ xây dựng thì các vướng mắc pháp lý từ giai đoạn giao đất ban đầu đã khép lại, là một giả định sai lầm làm tê liệt khả năng phòng thủ của doanh nghiệp trước các đợt rà soát hành chính dài hạn.

Văn hóa quản trị rủi ro trong doanh nghiệp bất động sản tại Việt Nam thường bị hiểu nhầm là hệ thống văn bản nội bộ hoặc các quy trình phê duyệt hành chính nhằm xác định người chịu trách nhiệm khi sự cố xảy ra. Trong giai đoạn 2026-2030, khi các chuẩn mực thị trường vốn, các yêu cầu minh bạch từ nhà đầu tư tổ chức và áp lực thực thi pháp luật được siết chặt với tầm nhìn đến năm 2050, quản trị rủi ro không còn là bộ phận hậu kiểm mà là năng lực kiến tạo giá trị thông qua việc định lượng chính xác rủi ro gốc và rủi ro còn lại. Rủi ro gốc là mức độ tổn thất tiềm năng khi chưa có bất kỳ biện pháp can thiệp nào, trong khi rủi ro còn lại là phần tổn thất được giữ lại sau khi đã áp dụng các lớp kiểm soát, điều khoản hợp đồng hoặc công cụ chuyển giao. Chuyển dịch văn hóa quản trị rủi ro đòi hỏi tổ chức từ bỏ tư duy phòng vệ bị động, chấp nhận tính toán các khoản tổn thất kỳ vọng và chuẩn bị cho các kịch bản tổn thất trong kịch bản xấu, nơi biên độ lợi nhuận ngắn hạn bị đánh đổi để bảo toàn sự liên tục hoạt động của toàn bộ danh mục tài sản.

Nguyên nhân gốc rễ của sự suy yếu văn hóa rủi ro nằm ở xung đột cấu trúc giữa mục tiêu tăng trưởng quy mô bằng đòn bẩy tài chính cao và năng lực kiểm soát thực tế của bộ máy vận hành. Khi các chỉ tiêu doanh số và diện tích quỹ đất được đặt lên hàng đầu, quy trình thẩm định pháp lý ban đầu thường bị ép thời gian để kịp thời điểm mở bán hoặc M&A, biến các rủi ro pháp lý tiềm ẩn thành các khoản nợ tiềm tàng nằm sâu trong báo cáo tài chính. Rủi ro gốc từ việc nhận chuyển nhượng một công ty dự án chưa hoàn thiện thủ tục đất đai được che giấu bằng các cam kết bảo lãnh nội bộ hoặc các khoản tạm ứng qua lại giữa các pháp nhân liên quan. Khi áp lực đáo hạn trái phiếu và tín dụng gia tăng, cấu trúc sở hữu đa tầng với hệ thống công ty con sở hữu chéo làm mất đi khả năng kiểm soát dòng tiền tập trung, khiến một sai sót tại cấp độ dự án đơn lẻ có thể kích hoạt điều khoản vi phạm chéo trên toàn bộ hệ thống vay vốn của tập đoàn.

Cơ chế lan truyền rủi ro hệ thống bắt đầu từ việc thiếu hụt thanh khoản cục bộ tại một dự án bị đình trệ thủ tục, từ đó tạo ra áp lực dây chuyền lên các nghĩa vụ bảo lãnh chéo và cam kết mua lại cổ phiếu hoặc trái phiếu phát hành riêng lẻ. Một khoản nợ không thể đảo hạn tại công ty con trực tiếp làm suy giảm xếp hạng tín nhiệm nội bộ, dẫn đến việc các ngân hàng tài trợ cho các dự án khác trong cùng tập đoàn yêu cầu bổ sung tài sản bảo đảm hoặc thu hồi sớm hạn mức tín dụng. Khi thông tin về việc tạm dừng dự án xuất hiện trên các kênh truyền thông hoặc mạng xã hội trong vòng hai mươi bốn giờ trước khi doanh nghiệp kịp phát hành thông cáo chính thức, niềm tin của người mua nhà sụt giảm, dẫn đến làn sóng yêu cầu thanh lý hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc đòi lại tiền đặt cọc. Dưới áp lực này, dòng tiền từ các dự án đang vận hành tốt bị hút về để cứu dự án đang gặp sự cố, làm suy yếu toàn bộ chuỗi cung ứng và đẩy tập đoàn vào tình trạng mất khả năng thanh toán kỹ thuật.

Mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Ban điều hành trong quản trị rủi ro đòi hỏi sự phân định rõ ràng về lằn ranh trách nhiệm pháp lý, tuân thủ và đạo đức kinh doanh. Hội đồng quản trị giữ vai trò phê duyệt khẩu vị rủi ro và các hạn mức rủi ro định lượng, trong khi Ban điều hành chịu trách nhiệm thực thi các biện pháp kiểm soát hàng ngày. Trong kỷ luật thị trường hiện đại, thành viên Hội đồng quản trị không thể miễn trừ trách nhiệm khi phê duyệt các giao dịch với bên liên quan không được công bố đầy đủ hoặc khi bỏ qua các cảnh báo từ bộ phận kiểm soát nội bộ về nguồn gốc đất đai chưa rõ ràng. Kỷ luật thị trường đòi hỏi mọi quyết định phân bổ nguồn vốn lớn đều phải đi kèm với bảng đánh giá rủi ro pháp lý chi tiết, trong đó xác định rõ ai chịu trách nhiệm cá nhân nếu các giả định về tiến độ phê duyệt quy hoạch hoặc chuyển mục đích sử dụng đất không trở thành hiện thực.

See also  Rủi ro môi trường và khí hậu trong doanh nghiệp bất động sản (0012)

Các quyết định rủi ro thường bị khóa chặt từ khâu khởi tạo dự án thông qua việc lựa chọn nguồn gốc đất đai chưa hoàn thiện thủ tục bồi thường giải phóng mặt bằng hoặc chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước. Chủ đầu tư thường chấp nhận mua lại các dự án qua hình thức chuyển nhượng cổ phần doanh nghiệp dự án nhằm tiết kiệm thời gian, nhưng lại bỏ sót việc kiểm tra các quyết định hành chính từ nhiều năm trước liên quan đến việc giao đất không qua đấu giá hoặc xác định tiền sử dụng đất chưa theo sát phương pháp định giá thị trường tại thời điểm đó. Hệ quả là khi cơ quan thanh tra tiến hành rà soát diện rộng, toàn bộ chuỗi pháp lý từ quyết định chủ trương đầu tư đến giấy phép xây dựng đều bị đặt vào tình trạng xem xét lại, khiến chủ đầu tư gánh chịu khoản truy thu nghĩa vụ tài chính vượt quá toàn bộ biên độ lợi nhuận dự kiến của dự án.

Quá trình vận hành dự án đòi hỏi việc phân định rõ những rủi ro có thể giảm thiểu bằng quy trình nội bộ và những rủi ro cấu trúc không thể khắc phục nếu sai lầm đã xảy ra từ khâu pháp lý ban đầu. Chi phí kinh tế của việc cố gắng khắc phục một sai lầm cấu trúc bằng các biện pháp vận hành thông thường thường vượt xa giá trị tài sản tranh chấp, bao gồm chi phí theo đuổi thủ tục hành chính kéo dài, chi phí tài chính cho các khoản vốn bị phong tỏa và tổn thất danh tiếng không thể đo lường trực tiếp trên báo cáo kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp buộc phải thiết lập cơ chế dừng dự án kịp thời thay vì tiếp tục bơm vốn vào một tài sản mang rủi ro gốc quá cao, chấp nhận ghi nhận tổn thất ngắn hạn để bảo toàn nguồn lực cho các danh mục đầu tư tuân thủ đầy đủ tiêu chuẩn pháp lý.

Khung phân tầng rủi ro trong tập đoàn bất động sản đa tầng phải tách biệt rõ ba cấp độ quản lý: cấp độ dự án đơn lập, cấp độ pháp nhân vận hành và cấp độ tập đoàn hợp nhất. Ở cấp độ dự án, rủi ro tập trung vào tính đồng bộ của hồ sơ pháp lý, tiến độ giải phóng mặt bằng và các điều khoản ràng buộc với nhà thầu thi công. Ở cấp độ pháp nhân, rủi ro nằm ở cấu trúc dòng tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, giao dịch với bên liên quan và nghĩa vụ thuế phát sinh. Ở cấp độ tập đoàn, rủi ro mang tính hệ thống, xuất phát từ các khoản bảo lãnh chéo, phát hành trái phiếu doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm độc lập và việc sử dụng vốn ngắn hạn cho đầu tư dài hạn. Sự khác biệt bản chất giữa các tầng này đòi hỏi hệ thống báo cáo rủi ro phải được tổng hợp theo thời gian thực thay vì đợi đến kỳ báo cáo tài chính quý hoặc năm.

Khẩu vị rủi ro và hạn mức rủi ro (Risk Appetite & Risk Limits) phải được tiêu chuẩn hóa thành các chỉ số định lượng cụ thể trước khi phê duyệt bất kỳ chiến lược M&A quỹ đất hoặc phương án huy động vốn nào. Khẩu vị rủi ro xác định mức độ tổn thất tối đa mà Hội đồng quản trị sẵn sàng chấp nhận để đổi lấy tỷ suất sinh lợi kỳ vọng, trong khi hạn mức rủi ro thiết lập các rào chắn không thể vượt qua đối với từng loại tài sản, từng đối tác và từng hình thức cấp vốn. Ví dụ, tỷ lệ nợ vay trên tổng tài sản của một pháp nhân dự án không được vượt quá năm mươi phần trăm trước khi hoàn thành móng, hoặc tổng giá trị các khoản phải thu từ bên liên quan không được vượt quá mười phần trăm vốn chủ sở hữu hợp nhất (minh họa). Khi các hạn mức này bị chạm ngưỡng, hệ thống tự động khóa quyền phê duyệt giải ngân và yêu cầu báo cáo giải trình trực tiếp trước Ủy ban Kiểm toán của Hội đồng quản trị.

Mô hình Ba tuyến phòng vệ (Three Lines Model) chỉ phát huy hiệu quả khi quyền độc lập của tuyến thứ hai (Kiểm soát nội bộ và Tuân thủ) được thể chế hóa bằng cơ chế báo cáo trực tiếp lên Hội đồng quản trị thay vì phụ thuộc vào Tổng giám đốc hoặc Ban điều hành dự án. Tuyến thứ nhất bao gồm các bộ phận kinh doanh, phát triển dự án và quản lý hợp đồng, chịu trách nhiệm nhận diện và xử lý rủi ro hàng ngày. Tuyến thứ hai thiết lập các chính sách, giám sát tuân thủ và thẩm định độc lập các hồ sơ pháp lý trước khi trình ký. Tuyến thứ ba là kiểm toán nội bộ độc lập, thực hiện đánh giá toàn diện tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát. Việc loại bỏ hình thức luận trong mô hình này đòi hỏi bộ phận tuân thủ có quyền phủ quyết đối với các giao dịch không đủ điều kiện pháp lý, ngay cả khi các quyết định đó nhận được sự hậu thuẫn từ Ban điều hành nhằm bảo vệ tiến độ kinh doanh.

See also  vi phạm trật tự xây dựng: đánh đổi chiến lược và hệ lụy pháp lý hệ thống (0034)

Sổ đăng ký rủi ro (Risk Register) và Hệ thống Chỉ số Rủi ro Chính (Key Risk Indicators – KRI) đóng vai trò là công cụ cảnh báo sớm cho Hội đồng quản trị trước khi các dấu hiệu suy yếu chuyển hóa thành khủng hoảng thanh khoản hoặc pháp lý. Sổ đăng ký rủi ro phải phân định rõ người sở hữu (risk owner) cho từng hạng mục rủi ro cụ thể, từ rủi ro pháp lý đất đai đến rủi ro biến động lãi suất.

Tên chỉ số rủi ro chính (KRI)Định nghĩa và cách đo lườngNgưỡng cảnh báoNgười sở hữuHành động bắt buộc khi chạm ngưỡng
Tỷ lệ nợ vay dự án trên giá trị tài sản bảo đảmDư nợ gốc chia cho giá trị định giá độc lập gần nhất của tài sản dự án (%)> 65% (minh họa)Giám đốc Tài chínhDừng giải ngân mới, yêu cầu bổ sung tài sản bảo đảm trong 30 ngày
Thời gian tồn đọng hồ sơ pháp lý đất đaiSố ngày từ khi nộp hồ sơ xin chuyển mục đích đến khi nhận kết quả thực tế> 180 ngày (minh họa)Trưởng bộ phận Pháp chếLập đoàn làm việc trực tiếp với cơ quan quản lý địa phương, rà soát lại phương án tài chính
Tỷ trọng khoản phải thu bên liên quanTổng giá trị tạm ứng, phải thu ngắn hạn bên liên quan chia tổng tài sản> 15% (minh họa)Kế toán trưởngYêu cầu hoàn nhập khoản phải thu, không duyệt mới mọi giao dịch tạm ứng nội bộ
Tỷ lệ khiếu nại pháp lý từ người mua nhàSố lượng căn hộ có tranh chấp tiến độ hoặc giấy chứng nhận chia tổng số căn> 5% (minh họa)Giám đốc Dịch vụ Khách hàngKích hoạt quỹ dự phòng pháp lý, đối thoại trực tiếp với đại diện cư dân

Bảng chỉ số rủi ro chính này thay đổi quyết định phân bổ dòng tiền và thẩm quyền phê duyệt tín dụng của doanh nghiệp, biến các ước tính định tính thành các kích hoạt tự động ngăn chặn việc mở rộng rủi ro khi thị trường biến động.

Quản trị rủi ro pháp lý dự án đòi hỏi chiến lược thiết kế hợp đồng phân bổ rủi ro công bằng giữa chủ đầu tư, nhà thầu và người mua, đồng thời triệt tiêu hoàn toàn các điều khoản chờ "tháo gỡ cơ chế" không có căn cứ pháp luật rõ ràng. Hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc hợp đồng tổng thầu (EPC) phải quy định rõ trách nhiệm tài chính và cơ chế chấm dứt khi dự án bị tạm dừng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tránh việc dồn toàn bộ gánh nặng chi phí lưu kho và lãi vay lên vai bên không nắm giữ quyền quyết định pháp lý. Danh mục vụ kiện tại tòa án hoặc trung trọng tài phải được theo dõi như một khoản nợ tiềm tàng, trong đó giá trị tranh chấp được trích lập dự phòng đầy đủ trên báo cáo tài chính hàng quý nhằm tránh những cú sốc về lợi nhuận khi phán quyết có hiệu lực.

Kỷ luật tài chính, đòn bẩy và kiểm tra sức chịu đựng (Stress Testing) phải được thực hiện dưới các kịch bản đối nghịch ngặt nghèo, bao gồm tình huống dòng tiền từ hoạt động kinh doanh giảm năm mươi phần trăm và chi phí vốn tăng ba phần trăm trong hai năm liên tiếp (minh họa). Doanh nghiệp phải tính toán chính xác điểm gãy của hệ thống khi một đợt đáo hạn trái phiếu lớn rơi vào đúng thời điểm các tài sản thế chấp bị phong tỏa phục vụ công tác thanh tra. Kênh lan truyền rủi ro qua bảo lãnh chéo phải được kiểm soát bằng cách giới hạn tổng giá trị bảo lãnh phát hành cho các công ty con không vượt quá ba mươi phần trăm vốn chủ sở hữu hợp nhất, đảm bảo rằng sự sụt giảm của một dự án đơn lẻ không đủ sức kéo sụp toàn bộ khả năng thanh khoản của tập đoàn mẹ.

Rủi ro tuân thủ, phòng chống tham nhũng, rửa tiền và kiểm soát dòng tiền nội bộ đòi hỏi việc thiết lập cơ chế kiểm soát ba mắt (three-eyes principle) trong mọi khâu mua sắm, lựa chọn nhà thầu và phân phối sản phẩm. Doanh nghiệp bất động sản có nghĩa vụ nhận biết khách hàng theo quy định phòng chống rửa tiền đối với các giao dịch có giá trị lớn hoặc các dòng tiền thanh toán từ nhiều tài khoản không chính chủ. Hệ thống kiểm soát nội bộ phải tự động phát hiện các dấu hiệu bất thường như nhân viên kinh doanh tự ý áp dụng mức chiết khấu vượt thẩm quyền, các giao dịch đặt cọc giữ chỗ đáng ngờ hoặc các khoản thanh toán cho nhà thầu phụ không đi kèm biên bản nghiệm thu khối lượng thực tế tại công trình.

Văn hóa quản trị rủi ro trong mối tương quan với các yêu cầu ESG, kiểm kê khí nhà kính và rủi ro khí hậu không chỉ dừng lại ở việc lập báo cáo bền vững hình thức mà là điều kiện tiên quyết để tiếp cận các nguồn vốn quốc tế với chi phí hợp lý. Các tiêu chuẩn như tính toán phát thải khí nhà kính phạm vi một, phạm vi hai và phạm vi ba trong chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng (bê tông, thép) đang trở thành tiêu chí xét duyệt tín dụng xanh từ các ngân hàng phát triển đa phương và quỹ đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp không chủ động kiểm toán năng lượng và thiết kế công trình đạt chuẩn chứng nhận xanh sẽ đối mặt với rủi ro tài sản bị chiết khấu giá trị đáng kể khi thị trường chuyển dịch sang các tiêu chuẩn vận hành bền vững vào năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

See also  Rủi ro pháp lý chuyển sang người mua và chiến lược quản trị hệ thống (0032)

Quản trị khủng hoảng truyền thông và kế hoạch liên tục hoạt động (Business Continuity Plan – BCP) đòi hỏi quy trình phản ứng nhanh trong hai mươi bốn giờ đầu tiên khi thông tin bất lợi xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Doanh nghiệp phải thiết lập người phát ngôn duy nhất, chuẩn bị sẵn các kịch bản thông tin dựa trên hồ sơ pháp lý đã được kiểm chứng thay vì giữ im lặng hoặc đưa ra các tuyên bố chung chung làm sụt giảm niềm tin của thị trường. Kế hoạch liên tục hoạt động phải xác định rõ các phương án dự phòng về nhân sự chủ chốt, hệ thống dữ liệu dự án được lưu trữ độc lập trên nền tảng đám mây bảo mật và quy trình duy trì liên lạc với các cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng tài trợ và đại diện người mua nhà trong mọi kịch bản gián đoạn vận hành.

Đánh đổi chiến lược giữa tốc độ triển khai dự án, chi phí tuân thủ ngặt nghèo và biên độ lợi nhuận tối ưu là bài toán cốt lõi của chủ đầu tư trong mọi chu kỳ thị trường.

Chỉ số đánh đổi chiến lượcPhương án A: Nhận quỹ đất nhanh qua M&A, kiểm soát pháp lý lỏng lẻoPhương án B: Thẩm định pháp lý triệt để, từ bỏ quỹ đất rủi ro cao
Rủi ro còn lại (thang điểm 1-10)8.5 (minh họa)2.5 (minh họa)
Tổn thất kỳ vọng và tổn thất trong kịch bản xấuTổn thất kỳ vọng: 50 tỷ; Tổn thất kịch bản xấu: 2,000 tỷ (minh họa)Tổn thất kỳ vọng: 5 tỷ; Tổn thất kịch bản xấu: 50 tỷ (minh họa)
Chi phí tuân thủ và thẩm định hằng năm2 tỷ đồng (minh họa)12 tỷ đồng (minh họa)
Thời gian và chi phí xử lý khi tranh chấp xảy ra3 đến 5 năm, chi phí pháp lý và phong tỏa vốn 500 tỷ (minh họa)Dưới 6 tháng, chi phí tối thiểu (minh họa)
Tỷ trọng danh mục chịu ảnh hưởng tiêu cực70% tổng tài sản hợp nhất (minh họa)10% tổng tài sản hợp nhất (minh họa)
Tác động đến hệ số nợ tiềm tàng trên vốn chủ sở hữuNợ tiềm tàng vượt 120% vốn chủ sở hữu (minh họa)Nợ tiềm tàng dưới 25% vốn chủ sở hữu (minh họa)

Bảng đánh đổi định lượng này thay đổi quyết định phê duyệt chiến lược M&A quỹ đất của Hội đồng quản trị, buộc tổ chức phải từ bỏ tư duy tối đa hóa tốc độ mở bán để chuyển sang ưu tiên bảo toàn biên độ an toàn vốn.

Tái cấu trúc tư duy lãnh đạo đòi hỏi việc đưa quản trị rủi ro trở thành DNA trong mọi quyết định kinh doanh thay vì duy trì nó như một thủ tục hành chính hình thức nhằm đối phó với cơ quan thanh tra. Khi quản trị rủi ro thực sự vận hành, mọi sự đánh đổi giữa tăng trưởng và an toàn đều được định lượng bằng các con số minh bạch, nơi người ra quyết định phải chịu trách nhiệm giải trình rõ ràng trước các cổ đông và người cấp vốn.

Luận đề trung tâm: Quản trị rủi ro hiệu quả trong doanh nghiệp bất động sản không làm giảm tốc độ tăng trưởng dài hạn mà loại bỏ các chi phí sụp đổ hệ thống do sai lầm cấu trúc từ khâu khởi tạo; điều kiện đảo chiều của luận đề này là khi khung pháp luật đất đai đạt mức minh bạch tuyệt đối, tự động hóa toàn bộ dữ liệu quy hoạch và loại bỏ hoàn toàn độ trễ thực thi hành chính giữa các cấp chính quyền.

Các quyết định theo chức năng phân định rõ trách nhiệm cụ thể như sau:

  • Hội đồng quản trị và điều hành chung: Phê duyệt khẩu vị rủi ro định lượng hàng năm; quyết định dừng hoặc tiếp tục các dự án có điểm rủi ro gốc vượt ngưỡng sáu mươi phần trăm tổng giá trị tài sản.
  • Pháp chế và hợp đồng: Thẩm định và phủ quyết mọi điều khoản hợp đồng hợp tác đầu tư thiếu cơ chế phân bổ trách nhiệm rõ ràng khi dự án bị tạm dừng; quản lý toàn bộ danh mục tranh chấp với tỷ lệ trích lập dự phòng tài chính đạt một trăm phần trăm giá trị khiếu kiện.
  • Tuân thủ và kiểm soát nội bộ: Thực thi quyền kiểm tra độc lập đối với các giao dịch bên liên quan; lập và cập nhật sổ đăng ký rủi ro hàng tháng với các chỉ số cảnh báo sớm được liên kết trực tiếp tới hệ thống phê duyệt giải ngân của tài chính.
  • Tài chính và quản trị rủi ro tài chính: Thiết lập giới hạn bảo lãnh chéo không vượt quá ba mươi phần trăm vốn chủ sở hữu hợp nhất; thực hiện kiểm tra sức chịu đựng dòng tiền định kỳ hàng quý với kịch bản suy giảm năm mươi phần trăm thanh khoản.
  • Truyền thông và quan hệ các bên liên quan: Triển khai kế hoạch liên tục hoạt động và kiểm soát thông tin trong vòng hai mươi bốn giờ đầu tiên khi xảy ra sự cố truyền thông; duy trì kênh đối thoại minh bạch với ngân hàng và trái chủ.
  • Phát triển dự án và đầu tư: Rà soát toàn bộ nguồn gốc đất đai và lịch sử thực hiện nghĩa vụ tài chính trước khi trình Hội đồng quản trị phê duyệt phương án M&A quỹ đất; từ bỏ các dự án tồn đọng vướng mắc pháp lý không có lộ trình tháo gỡ rõ ràng từ cơ quan có thẩm quyền.