
HÀNH TRANG THỰC TẾ: TÂY DU KÝ NHÌN TỪ GÁNH HÀNH LÝ VÀ ĐÔI VAI CỦA KẺ ĐỨNG BÌA
ĐOẠN ĐẦU TƯ LIỆU THỨ NHẤT: GÁNH HÀNH LÝ VÀ SỰ THẬT VỀ NHỮNG VẬT PHẨM VÔ TRI NHƯNG TRĨU NẶNG SỨC NẶNG THỜI GIAN
Thiên hạ đời sau khi nhắc đến Tây Du Ký thường chỉ nhớ về tiếng thét oai hùng của Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không khi vung gậy Như Ý phá vỡ mây mù, hay nhớ đến vẻ hào hoa tuấn tú cùng bộ áo cà sa lấp lánh của Đường Tăng mỗi lần bước lên đài thuyết pháp. Thậm chí có kẻ còn dành nhiều tình cảm cho Trư Bát Giới vì sự phàm ăn tục uống, tính cách hài hước và đôi lúc rất đỗi con người của hắn. Nhưng hiếm có ai, hay nói đúng hơn là rất ít người, thực sự nhìn thẳng vào chiếc đòn gánh trên vai ta, nhìn vào hai chiếc bồ đoàn rách rưới và khối hành lý lỉnh kỉnh mà ta đã gánh trên lưng qua mười bốn năm trường kỳ kháng chiến, qua hàng vạn dặm đường gió bụi từ kinh thành Trường An đến tận Tây Thiên Linh Sơn. Người đời nhìn vào ta và chỉ thấy một bóng đen lầm lũi, một kẻ ít nói, suốt ngày chỉ biết cúi đầu bước đi, không có phép thần thông quảng đại, không có bảy mươi hai phép biến hóa, cũng chẳng có những màn lộn nhào một củ cân đẩu vân vượt qua vạn dặm. Họ gọi ta là Sa Tăng, là Sa Hoà Thượng, là một kẻ trung hậu nhưng mờ nhạt, đứng ở góc khuất của bức tranh đại sự. Thế nhưng, nếu không có đôi vai này, nếu không có cái gánh hành lý tưởng chừng như vô tri ấy, thì liệu vị Đường Tăng kia có thể bước chân đến cửa Phật, liệu kinh thư chân chính có thực sự được mang về Đông Trù để phổ độ chúng sinh hay không. Đó là câu hỏi mà chưa từng có ai trong số ba vị sư huynh đệ kia tự hỏi lấy một lần. Đối với họ, hành lý chỉ là những vật dụng chết, là quần áo, là bình bát, là chiếu rách, và trên hết là cái văn bản thông quan khô khốc có đóng dấu ngọc tỷ của vua nhà Đường. Nhưng đối với ta, người trực tiếp gánh vác nó từng giây từng phút, từng nhịp thở từng bước chân, thì đống hành lý đó chính là cả một thế giới thu nhỏ, là sự kết tinh của lòng người, của định mệnh, và của cả những ảo tưởng trần thế mà nhân loại cứ mãi ôm ấp không nỡ buông tay. Khi ta đặt gánh hành lý xuống mỗi khi hoàng hôn buông xuống, tiếng động của tre cọ vào nhau, tiếng rơi lộp bộp của những cuốn kinh văn chưa thành phẩm, hay tiếng va chạm của cái bình bát sứt mẻ chính là bản âm thanh chân thực nhất của cuộc hành trình này. Không có phép thuật nào cứu rỗi được sức nặng vật lý của thực tại. Dù Tôn Ngộ Không có bay cao đến đâu, dù Bát Giới có mơ mộng đến đâu, thì cuối cùng đêm xuống vẫn phải quay về quanh đống lửa nhỏ do ta nhóm lên, dựa lưng vào chính cái đống hành lý mà ta bảo vệ. Ta không gánh những vật vô tri; ta đang gánh lấy sức nặng của lòng tin, của sự kiên nhẫn, và của cả cái sự thật phũ phàng rằng: con đường vĩ đại nào cũng phải được xây bằng những bước chân rộp phồng mụn nước và những giọt mồ hôi mặn chát đổ xuống đất đen không ai hay biết.
Hành trình mười bốn năm qua không phải là chuyện thần tiên cưỡi mây đạp gió như người ta vẫn tưởng tượng trong mấy câu chuyện trà dư tửu hậu. Đó là một chuỗi ngày tháng mà mỗi bước đi là một lần đối mặt với sự mệt mỏi cùng cực của thể xác và sự bào mòn của tâm hồn.
Ta nhớ rất rõ từng món đồ nằm trong cái gánh nặng trĩu ấy. Nằm ở đáy bồ đoàn là bộ y phục bằng lụa là gấm vóc mà vua Đường Thái Tông đã ban tặng cho Đường Tăng vào ngày thề non hẹn biển trước lúc lên đường. Ngày ấy, biết bao nhiêu người đưa tiễn, tiếng chiêng trống vang trời, vua cầm chén rượu thề chúc sư phụ chân cứng đá mềm. Nhưng chỉ đi qua vài ngọn núi hoang vu, qua mấy trận mưa rừng gió núi, bộ gấm vóc ấy đã bám đầy bùn đất, những sợi chỉ vàng bắt đầu sờn rách, sự hào nhoáng ban đầu nhanh chóng bị phai mờ bởi sương gió sa mạc và cái nóng như thiêu như đốt của Hỏa Diệm Sơn. Đó là bài học đầu tiên mà thực tại giáng vào mặt những kẻ mơ mộng: ánh hào quang của quyền lực thế gian chỉ có giá trị khi ngươi còn đứng trong cung điện hoa lệ; một khi đã bước chân ra ngoài hoang dã, đối mặt với thú dữ và đói khát, thì một cọng cỏ khô dắt trên vạt áo còn có ích hơn ngàn vạn lượng vàng bạc châu báu. Sư phụ ta, một con người suốt đời chỉ biết đọc kinh sách trong thanh tịnh của miếu Đại Hưng Thiện, ban đầu cứ tiếc nuối mãi những thứ vóc nhiễu ấy. Người thường giũ giũ, phủi phủi, thở dài thườn thượt mỗi khi thấy vạt áo dính một chút bùn lầy của ruộng đồng. Nhưng rồi qua đến sông Lưu Sa, nơi ta từng ngụp lặn làm yêu quái ăn thịt người, qua đến Bạch Hổ Lĩnh, qua biết bao nhiêu kiếp nạn nơi con người ta sẵn sàng ăn thịt lẫn nhau để giành giật sự sống, thì sư phụ cũng phải buông xuôi. Những thứ gấm vóc lụa là đó hóa ra chỉ là gánh nặng thừa thãi, làm chậm đi bước chân của người tu hành. Và người phải chịu trách nhiệm vác cái gánh nặng thừa thãi ấy trên vai chính là ta. Ta chưa từng phàn nàn một câu, bởi vì từ khi được Quan Âm Bồ Tát hóa giải oán cội nguồn, nhận lãnh sứ mệnh bảo vệ người đi lấy kinh, ta hiểu rằng phận sự của ta không phải là đưa ra những quyết sách lớn lao, không phải là vung gậy dời non lấp bể, mà là âm thầm chịu đựng tất cả những dư âm thừa thãi của thế gian mà các vị sư huynh đệ đã vô tình hoặc hữu ý bỏ quên lại trên đường. Tôn Ngộ Không đánh nhau với yêu ma xong là vác gậy bay đi tìm kẻ thù tiếp theo, để lại bãi chiến trường hoang tàn và đống đồ đạc lỉnh kỉnh rơi vãi khắp nơi. Trư Bát Giới thì hễ thấy mệt là trút bỏ bớt bảo vật, thậm chí có lúc còn định vứt cả gánh hành lý xuống vực sâu để mình được nhẹ nhàng mà ngủ một giấc cho ngon. Chỉ có ta, người đứng ở tuyến sau cùng, lặng lẽ nhặt nhủm từng thứ một, xếp lại cho gọn gàng, rồi lại nâng lên đặt lên đôi vai đã chai sạn từ ngàn xưa của mình. Đôi vai của ta không còn cảm giác đau đớn nữa, bởi vì nỗi đau đã trở thành một phần của da thịt, trở thành một thứ bản năng sinh tồn. Người ta thường ca ngợi lòng kiên nhẫn của Đường Tăng khi phải vượt qua tám mươi mốt kiếp nạn, nhưng người ta quên mất rằng, đứng ngay sau lưng người, kề vai sát cánh từng bước chân là một kẻ cũng phải trải qua đúng ngần ấy kiếp nạn, thậm chí còn nặng nề hơn, vì trong khi họ bận rộn với yêu ma quỷ怪, thì ta phải bận rộn với chính sự tồn vong của từng cái bát cái đũa, từng trang kinh văn và cả sự sống còn của cả đoàn người trong những đêm đông giá rét không một bóng người qua lại.
Nằm bên cạnh bộ y phục hoàng gia ấy là văn bản thông quan, thứ giấy tờ có chữ ký của hoàng đế và quốc ấn của nhà Đường, thứ mà đi đến quốc gia nào cũng phải trình ra để xin phép qua cửa. Đối với ta, thứ giấy này kỳ lạ thay lại là minh chứng rõ ràng nhất cho sự ngây thơ của con người. Sư phụ luôn xem nó như một lá bùa hộ mệnh tối thượng, tin rằng chỉ cần đưa ra là mọi quốc vương từ Tây Lương Nữ Quốc cho đến Thiên Trúc đều phải cúi头 nể sợ, mở cổng thành nghênh đón. Nhưng sự thật thì sao. Có những vương quốc mà vua của họ chỉ là một con yêu quái giả dạng, chúng nhìn văn bản thông quan rồi cười nhạo, xé nát nó ra nếu chúng thích, hoặc nhét nó vào xó xỉnh nào đó rồi tìm cách hãm hại cả đoàn. Có những vùng đất mà người dân còn chưa biết chữ, họ nhìn tờ giấy có triện đỏ triện vàng với vẻ mặt ngơ ngác như nhìn một mảnh lá cây khô rơi xuống từ trên trời. Thế mà sư phụ vẫn cứ nâng niu nó như báu vật, tối nào cũng bắt ta lấy ra kiểm tra xem có bị ẩm mốc hay nhàu nát góc nào không. Ta cúi đầu vâng lệnh, nhẹ nhàng mở chiếc tráp gỗ nhỏ, nâng tờ giấy bằng cả hai bàn tay thô ráp của mình, lòng tự hỏi không biết cái quyền lực tối cao của thế gian mà con người ta ngày đêm tranh giành, chém giết lẫn nhau rốt cuộc có ý nghĩa gì khi đứng trước sự bao la và tàn nhẫn của thiên nhiên hoang dã. Giữa núi non trùng điệp, một tờ giấy thông quan có đóng dấu của vua Đại Đường chẳng có giá trị bằng một củ khoai nướng vùi trong tro ấm mà ta xin được của một lão nông dân nghèo khổ nào đó bên vệ đường. Nhưng ta vẫn giữ. Ta giữ không phải vì ta tin vào sức mạnh của nó, mà vì ta hiểu rằng nếu không có tờ giấy ấy, sư phụ sẽ mất đi chỗ dựa tinh thần cuối cùng của một kẻ đại diện cho triều đình phương Đông. Con người đôi khi yếu đuối đến mức họ buộc phải bấu víu vào những thứ ảo ảnh do chính mình tạo ra để có đủ can đảm bước tiếp vào bóng tối. Và vai trò của ta, hóa ra lại là kẻ bảo quản những ảo ảnh đó, biến chúng thành những vật thể có thật, nằm yên vị trong gánh hành lý để không ai phải hoảng loạn giữa dọc đường gió bụi.
Nhưng có lẽ phần nặng nề nhất, phần khiến đôi vai ta oằn xuống mỗi khi chiều tà đổ bóng chính là những cuốn kinh văn trắng, hay đúng hơn là những khoảng trống chưa được điền đầy mà chúng ta đang lặn lội đi tìm. Thiên hạ cứ nghĩ khi đến được Linh Sơn, Như Lại Phật Tổ sẽ trao cho chúng ta những bộ kinh vàng thước ngọc, chữ viết rực rỡ, thơm ngát hương hoa. Nhưng khi ta thực sự cúi đầu nhận lấy những cuộn kinh vô tự từ tay hai tôn giả An Toàn và Ca Diếp, ta mới nhận ra sự mỉa mai sâu cay của số phận. Kinh không có chữ. Những cuốn kinh mà chúng ta phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, máu và cả những nỗi thống khổ tận cùng của tám mươi mốt kiếp nạn hóa ra lại là những trang giấy trắng tinh khiết. Lúc đó, Trư Bát Giới gào lên tức giận, cảm thấy mình bị lừa gạt một vố đau đớn, cảm thấy công sức mười bốn năm qua bỗng chốc đổ xuống sông xuống biển. Sư phụ thì bàng hoàng, đứng chôn chân không nói nên lời. Ngay cả Tôn Ngộ Không cũng phải gãi đầu gãi tai, trợn mắt nhìn mấy vị tôn giả trên đài cao với vẻ mặt hoang mang tột độ. Chỉ có ta, người từ đầu đến cuối chỉ ôm lấy gánh hành lý, là không hề cảm thấy bất ngờ. Ta nhìn những trang giấy trắng ấy và mỉm cười một nụ cười mà không ai hiểu nổi. Bởi vì trong suốt mười bốn năm gánh chúng trên vai, ta đã sớm nhận ra rằng: cái thực sự nặng không phải là những con chữ được in trên giấy, mà là chính con đường mà chúng ta đã đi qua. Kinh sách thực sự không nằm ở Linh Sơn, mà nằm trên từng bước chân rộp phồng của sư phụ, nằm trong từng cái vung gậy trừ yêu của đại sư huynh, nằm trong những lời than vãn đầy tính con người của nhị sư huynh, và nằm trong từng nhịp gánh oằn vai của chính ta. Khi ta xếp những cuốn kinh vô tự ấy vào lại chiếc bồ đoàn, ta cảm thấy chúng nhẹ bẫng, nhẹ hơn cả những chiếc lá khô mùa thu. Hóa ra, khi con người ta đã trút bỏ được hết mọi vọng niệm, mọi sự chấp trước vào danh từ, văn tự, vào cái gọi là chân lý có hình tướng, thì gánh nặng lớn nhất của đời người tự khắc sẽ biến mất. Ta không còn cảm thấy mệt mỏi nữa. Đôi vai tê dại bấy lâu bỗng trở nên thanh thoát lạ kỳ. Ta đã gánh cả thế giới đi từ Đông sang Tây, để rồi cuối cùng nhận ra rằng thế giới ấy vốn chẳng có gì ngoài một khoảng không mênh mông tịch mịch.
ĐOẠN ĐẦU TƯ LIỆU THỨ HAI: SỰ THẬT VỀ ĐỊA VỊ VÀ TÂM THẾ CỦA KẺ ĐỨNG BÌA TRONG MỘT TẬP THỂ TOÀN NHỮNG KẺ QUÁ LỚN LAO
Trong cái đoàn thỉnh kinh kỳ lạ ấy, nếu nhìn từ bên ngoài vào, ta luôn là kẻ mờ nhạt nhất, là người thừa thãi đứng ở rìa câu chuyện. Tôn Ngộ Không là cái rốn của vũ trụ, là trung tâm của mọi sự chú ý với bản lĩnh lẫy lừng, đại náo thiên cung khiến ngọc hoàng thượng đế phải kiêng dè, dưới chân đạp mây ngũ sắc, tay cầm gậy thiết bảng nặng một vạn ba ngàn cân. Đi đến đâu là ở đó náo động đến đấy, yêu ma quỷ怪 nghe danh là rụng rời tay chân, các vị thần tiên thổ địa phải ra nghênh đón cung kính. Trư Bát Giới dẫu có vụng về, tham lam lười biếng nhưng lại là nguồn cười, là gia vị không thể thiếu cho những chặng đường dài mệt mỏi, là kẻ biết cách than vãn, biết cách đòi ăn, biết cách tạo ra những tình huống dở khóc dở cười để kéo mọi người về lại với thực tại trần tục. Đường Tăng lại càng quan trọng hơn, là mục đích tối thượng, là tâm điểm của sự bảo vệ, là hạt nhân đạo đức mà tất cả ba đồ đệ phải dốc toàn lực để che chở, dẫu cho đôi khi sự cố chấp, lòng thương người mù quáng và sự thiếu hiểu biết về nhân tâm của người suýt chút nữa đã đẩy cả bọn vào chỗ chết. Còn ta thì sao? Ta là ai trong cái tập thể rực rỡ và đầy tiếng tăm ấy? Ta là Sa Ngộ Tịnh, nguyên là Quyển Màn Đại Tướng ở điện Lưu Sa, chỉ vì lỡ tay làm vỡ một cái chén lưu ly trong hội bàn đào mà bị đày xuống sông Lưu Sa, cứ bảy ngày lại phải chịu cảnh phi đao đâm vào cổ họng đau đớn thấu xương. Một kẻ từng phạm thiên điều, một con yêu quái mặt xanh nhe nanh múa vuốt từng ăn thịt không biết bao nhiêu người phu phen qua lại bến sông ấy, khi được thu nhận vào đoàn thì chỉ biết câm lặng cúi đầu, vâng lời răm rắp. Người ta thường gọi ta là người trung thực, hiền lành, ít nói. Nhưng có ai thực sự hiểu được cái sự "ít nói" ấy ẩn chứa điều gì? Đó không phải là sự đần độn hay thiếu suy nghĩ. Đó là sự thấu suốt đến tận cùng của một kẻ đã từng đứng ở bờ vực của cái chết và sự trừng phạt tột cùng. Khi ngươi đã nếm trải đủ sự vô thường của quyền lực thiên đình, khi ngươi đã biết rằng một cái chén ngọc vỡ có thể đánh đổi bằng cả một kiếp đọa đày đau đớn, thì ngươi sẽ học được cách ngậm miệng lại trước những ồn ào của thế gian. Ta nhìn đại sư huynh lúc nào cũng hầm hầm sát khí, nhảy loi chooi đòi đánh đòi giết, ta chỉ mỉm cười. Ta nhìn nhị sư huynh lúc nào cũng tọc mạch, xúi giục sư phụ niệm kinh trừng phạt Tôn Ngộ Không, ta chỉ lẳng lặng đứng nhìn. Ta biết rõ bản chất của từng người, biết rõ những góc tối trong tâm hồn họ, biết cả những sự ích kỷ nhỏ nhoi lẫn sự vĩ đại phi thường mà họ mang theo. Nhưng ta chưa bao giờ lên tiếng phán xét, chưa bao giờ đứng ra tranh giành công trạng hay đòi hỏi một chỗ ngồi cao hơn trong lòng sư phụ. Vị trí của ta là đứng ở tuyến sau, là chiếc mỏ neo giữ cho con thuyền không bị lật nhào khi hai vị sư huynh nổi sóng gió. Người đời khen ngợi những kẻ biết làm nên chuyện lớn, nhưng lịch sử thực chất lại được viết bởi những kẻ biết cách kiềm chế sự bồng bột của mình để ôm lấy phần việc âm thầm nhất.
Sự mờ nhạt của ta không phải là sự yếu kém, mà là một sự lựa chọn chiến lược mang tính sinh tồn và giác ngộ sâu sắc. Trong một tập thể mà ai cũng muốn làm anh hùng, ai cũng muốn là tâm điểm của sự chú ý, thì việc xuất hiện thêm một kẻ thích thể hiện bản thân sẽ chỉ làm cho nội bộ thêm rạn nứt. Tôn Ngộ Không tính tình nóng nảy, ngạo mạn, không coi ai ra gì ngoài sư phụ; Trư Bát Giới thì ghen tị tài năng của đại sư huynh, luôn tìm cách châm ngòi để chuốc lấy lợi lộc cho bản thân. Nếu ta cũng tham gia vào cuộc chiến giành giật quyền lực ngầm ấy, nếu ta cũng vác gậy ra tranh phần đánh yêu quái với đại sư huynh, thì cái đoàn thỉnh kinh này chắc chắn đã tan rã từ lâu trước khi kịp đặt chân đến sông Lưu Sa lần thứ hai. Sự im lặng của ta chính là chiếc đệm giảm xóc, là thứ keo kết dính vô hình giữ cho ba con người với ba tính cách hoàn toàn trái ngược nhau có thể tiếp tục bước đi bên nhau. Mỗi lần đại sư huynh và nhị sư huynh cãi nhau to tiếng, đến mức đại sư huynh rút gậy định đập cho một trận chết tươi, thì chính ta là kẻ đứng ra can ngăn, dùng những lời lẽ khiêm nhường nhất, nhẹ nhàng nhất để xoa dịu cái tôi đang sưng phồng của cả hai. Ta nói với đại sư huynh rằng: "Đại sư huynh đừng chấp nhị sư huynh làm gì, tính tình huynh ấy vốn thế, lo cho sư phụ mới là quan trọng nhất". Rồi ta quay sang bảo nhị sư huynh: "Nhị sư huynh cũng bớt lời đi, đại sư huynh vất vả đánh giặc ngoài mặt, chúng ta ở sau lưng phải biết thông cảm". Những câu nói tưởng chừng như vô thưởng vô phạt ấy lại có sức mạnh xoa dịu những ngọn lửa giận dữ đang bốc cháy ngút trời. Ta không cần phải chứng minh mình mạnh đến đâu, bởi vì sức mạnh thực sự nằm ở khả năng kiểm soát được sự hỗn loạn của người khác. Người đời thường ca ngợi những chiến thắng vang dội trên chiến trường, nhưng lại quên mất rằng chiến thắng vĩ đại nhất chính là chiến thắng được cái tôi ích kỷ của bản thân để duy trì sự hòa hợp của một tập thể. Trong suốt mười bốn năm trời, ta chưa từng lập được một chiến công hiển hách nào đáng kể, ta không đánh bại được con yêu quái nào sừng sỏ nhất, không có tên tuổi của ta được khắc vào bia đá của thiên đình hay địa phủ. Nhưng nếu không có ta, liệu Tôn Ngộ Không có thể toàn tâm toàn ý đánh yêu quái hay không khi mà sau lưng hắn lúc nào cũng có nguy cơ bị nội bộ đâm lén? Liệu Đường Tăng có thể giữ được cái tâm thanh tịnh để đọc kinh niệm phật hay không khi mà bên tai lúc nào cũng là tiếng cãi vã chí chóe của hai gã đồ đệ bất trị? Ta chính là cái bóng của họ, là phần góc tối an toàn mà họ có thể dựa vào mỗi khi kiệt sức. Và trong thế giới này, làm một cái bóng vững chãi còn khó hơn rất nhiều so với việc làm một ánh hào quang chói lọi nhưng chóng tàn.
Thế nhưng, đứng ở rìa không có nghĩa là không nhìn thấy trung tâm. Ngược lại, vì đứng ở một góc khuất, không bị ánh sáng chói lọi của sự nổi tiếng làm cho lóa mắt, ta lại có cơ hội quan sát rõ ràng nhất bản chất thực sự của tất cả những gì đang diễn ra trước mắt mình. Ta nhìn thấy sự bất lực của Tôn Ngộ Không đằng sau những trận cười ngạo mạn. Hắn có thể lật tung thiên cung, có thể sai khiến cả thiên binh vạn tướng, nhưng lại hoàn toàn bất lực trước sự cố chấp của sư phụ và những chiếc vòng kim cô đang siết chặt trên đỉnh đầu mỗi khi hắn dám trái lệnh. Hắn là một vị thần tự do bị giam cầm trong thân xác của một con khỉ đá, bị thuần hóa bởi những bài kinh chú vô hình nhưng vô cùng kiên cố. Nhìn hắn gục xuống ôm đầu rên rỉ mỗi khi Đường Tăng niệm chú, ta không hề cảm thấy buồn cười hay hả hê, mà chỉ thấy một nỗi xót xa vô hạn cho cái gọi là sự giác ngộ. Hóa ra, để trở thành một Phật tử chân chính, con người ta trước hết phải bị bẻ gãy hoàn toàn cái tôi ngạo mạn, phải chịu đựng những đớn đau thể xác và tinh thần cho đến khi không còn dám phản kháng lại bất kỳ một trật tự nào nữa. Tôn Ngộ Không mạnh mẽ đến đâu thì cuối cùng cũng phải cúi đầu trước chiếc vòng kim cô ấy, cũng phải chấp nhận trở thành một công cụ ngoan ngoãn trong tay của Phật tổ Như Lai và Quan Âm Bồ Tát. Còn Trư Bát Giới, kẻ mà người ta hay chê cười là lười biếng, háo sắc và ham ăn, thực chất lại là kẻ tỉnh táo nhất theo một cách rất riêng. Hắn không ảo tưởng về bản thân, không ôm ấp những lý tưởng cao siêu cứu độ chúng sinh như sư phụ, cũng chẳng gánh vác sứ mệnh cứu đời vá trời như đại sư huynh. Hắn chỉ muốn được ăn no, ngủ kỹ, đôi khi tạt qua mấy bản làng ngắm nghía mấy cô gái đẹp, rồi lại quay về tiếp tục gánh cồng kềnh đi tiếp. Hắn là hiện thân của cái phần con bản năng, không che đậy, không giả tạo. Sự tham lam và phàm ăn của hắn chính là tấm gương phản chiếu sự thật về con người trần thế mà các vị thần thánh trên cao cố tình lờ đi. Ta nhìn Bát Giới và thấy thương hại hắn nhiều hơn là trách móc. Trong cái thế giới toàn những kẻ đang cố gắng gồng mình lên để làm thánh thần, làm bậc vĩ nhân, sự dung tục của Bát Giới lại trở thành một thứ chân thật hiếm hoi giúp cho đoàn thỉnh kinh không bị biến thành một cỗ máy tu hành vô cảm. Còn về phần sư phụ, con người mà chúng ta dốc sức bảo vệ từng li từng tí ấy, lại là hiện thân của sự mâu thuẫn tột cùng giữa lòng từ bi mù quáng và sự lạnh lùng của định mệnh. Sư phụ có thể khóc thương cho một con kiến bị giẫm đạp trên đường, nhưng lại sẵn sàng nhẫn tâm đuổi Tôn Ngộ Không đi chỉ vì hiểu lầm hắn sát sinh, dẫu cho hành động đó có thể đẩy đồ đệ của mình vào chỗ chết hoặc làm tan rã cả đoàn thỉnh kinh. Sư phụ đại diện cho lòng tin tuyệt đối vào đạo pháp, nhưng cũng chính lòng tin tuyệt đối ấy đã làm cho người mất đi khả năng nhìn nhận thực tế, biến người thành một nạn nhân ngây thơ trong những trò chơi quyền lực giữa các thế lực thần tiên trên trời. Ta đứng giữa ba con người ấy, giống như đứng giữa một bức tranh hỗn độn của khát vọng, sự yếu đuối và quyền lực. Ta không phán xét ai đúng ai sai, bởi vì ta hiểu rằng tất cả bọn họ đều chỉ là những con tốt trên bàn cờ của một ván cờ lớn hơn rất nhiều, một ván cờ mà người chơi không lộ diện, còn chúng ta thì cứ đinh ninh rằng mình đang tự quyết định số phận của chính mình.
ĐOẠN ĐẦU TƯ LIỆU THỨ BA: NHỮNG SUY NGẪM TRẦM TƯ VỀ Ý NGHĨA THỰC SỰ CỦA CHUYỆN THỈNH KINH VÀ SỰ TRỞ VỀ CỦA KẺ KHÔNG CÓ TÊN TUỔI
Khi cuối cùng chúng ta cũng đặt chân lên đỉnh Linh Sơn, khi những cuộn kinh vô tự đã được trao tận tay, khi các vị Phật tổ trên đài sen cao vút cất tiếng ban thưởng phong tước vị cho từng người, ta lại một lần nữa tìm thấy vị trí quen thuộc của mình ở góc khuất cuối cùng của buổi lễ. Đại sư huynh Tôn Ngộ Không được phong làm Đấu Chiến Thắng Phật, một danh hiệu oai phong lẫm liệt, cuối cùng cũng được công nhận là một bậc chính quả đường hoàng, không còn phải mang tiếng là con khỉ hoang dã ngày nào. Nhị sư huynh Trư Bát Giới được phong làm Tịnh Đàn Sứ Giả, một chức vụ tuy nghe có vẻ không oai bằng nhưng lại cực kỳ hợp với tính cách của hắn, chuyên lo việc hưởng thụ những lễ vật cúng dường của thiên hạ, không phải lo nghĩ gì đến chuyện đánh đập yêu ma nữa. Sư phụ Đường Tăng được phong làm Chân Tán Phật, đứng vào hàng ngũ những bậc tôn giả tối cao, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh cứu độ chúng sinh mà triều đình nhà Đường và thiên đình phó thác. Còn ta, Sa Ngộ Tịnh, kẻ đã gánh vác toàn bộ hành lý, lo lắng từng bữa ăn giấc ngủ, lau chùi từng vết bùn bám trên áo cho tất cả bọn họ trong suốt mười bốn năm trời, được phong làm Kim Thân Sổ Hạt Tôn Giả. Một cái tên dài dòng, nghe có vẻ tôn nghiêm nhưng thực chất cũng chỉ là một chức vị ở tầng lớp thấp nhất trong hệ thống phân cấp của nhà Phật, một thứ danh hiệu dùng để an ủi một kẻ làm công ăn lương suốt đời chỉ biết cúi đầu phục vụ người khác. Có ai chạnh lòng thay cho ta không? Có ai nhìn vào tờ sắc phong ấy mà thấy sự bất công hay không? Không một ai cả. Ngay cả bản thân ta cũng không hề cảm thấy một chút tủi thân hay bất mãn nào. Bởi vì từ lâu lắm rồi, ta đã hiểu rằng phần thưởng lớn nhất của cuộc hành trình này không nằm ở cái danh hiệu Kim Thân Sổ Hạt Tôn Giả kia, cũng không nằm ở việc được ngồi lên đài sen cao vút để cho người đời cúng bái. Phần thưởng lớn nhất chính là sự tĩnh lặng của tâm hồn sau khi đã đi qua một cõi bão giông. Ta đã trả xong món nợ làm vỡ chén lưu ly ở hội bàn đào. Ta đã chuộc xong tội lỗi của một thời làm yêu quái ăn thịt người ở sông Lưu Sa. Đôi vai đã từng oằn xuống vì gánh nặng hành lý nay đã được thảnh thơi, không còn phải vác theo bất kỳ một vật phẩm trần thế nào nữa. Ta đã nhìn thấy sự thật về thiên kinh, đã hiểu được rằng cái gọi là chân lý hóa ra chỉ là một tờ giấy trắng, và con đường vĩ đại nhất chính là con đường đi vào bên trong nội tâm của chính mình. Khi người ta không còn bị trói buộc bởi danh lợi, không còn khao khát được người khác chú ý hay ca ngợi, thì lúc đó, dù đứng ở góc khuất nhất của Linh Sơn, ta vẫn cảm thấy mình tự do hơn bất kỳ vị Phật tổ nào đang ngồi trên đài cao kia.
Nhưng cuộc hành trình thực sự có bao giờ thực sự kết thúc hay không? Đó là câu hỏi mà ta thường tự hỏi mình khi đêm về, trong ánh sáng mờ ảo của những ngọn nến trên đỉnh Linh Sơn. Người ta cứ nghĩ đến Tây Thiên là hết chuyện, là đạt được niết bàn, là vĩnh viễn thoát khỏi bể khổ luân hồi. Nhưng ta biết rõ hơn ai hết, thế gian này không có điểm dừng cuối cùng, nó chỉ là một vòng lặp vô tận của những sự khởi đầu và kết thúc. Ngày mai, khi ánh mặt trời lại mọc lên ở phương Đông, thiên hạ lại tiếp tục chìm đắm trong những cuộc tranh giành quyền lực, những giấc mộng danh lợi, những nỗi đau khổ và khát vọng tầm thường. Sư phụ sẽ mãi mãi là một biểu tượng được thờ phụng trong những ngôi chùa khói hương nghi ngút, nơi con người ta đến để cầu xin sự phù hộ cho tài lộc và bình an thay vì học cách buông bỏ như những gì người từng trải nghiệm trên đường đi. Tôn Ngộ Không sẽ mãi mãi là một vị Phật chiến đấu, một biểu tượng của sức mạnh bị thuần hóa, dùng để trấn áp những thế lực tà ác khác trong vũ trụ, không bao giờ được trở lại làm con khỉ tự do nhảy nhót trên hoa quả sơn ngày nào. Trư Bát Giới sẽ mãi mãi ăn no ngủ kỹ trên đống lễ vật cúng dường, hài lòng với một cuộc sống tầm thường nhưng đầy đủ vật chất. Còn ta, ta sẽ làm gì với phần đời còn lại của mình ở chốn phật quang phổ chiếu này? Ta sẽ tiếp tục đứng ở góc khuất, tiếp tục làm cái bóng lặng lẽ cho những vinh quang của người khác hay sao? Không, ta không còn phải làm thế nữa. Nhưng thói quen gánh vác đã ngấm vào máu thịt, sự trầm lặng đã trở thành bản chất thứ hai của ta. Có lẽ, thiên mệnh của ta không phải là để trở thành một nhân vật vĩ đại được hàng triệu người ngợi ca, mà là để làm chứng nhân cho sự thật rằng: đằng sau mỗi huyền thoại vĩ đại luôn là những con người bình thường phải cúi đầu gánh chịu phần việc nặng nhọc nhất, thầm lặng nhất và ít được nhớ đến nhất. Khi người ta đọc lại cuốn Tây Du Ký qua hàng ngàn năm sau, họ sẽ vẫn trầm trồ trước sự thần thông quảng đại của Tề Thiên Đại Thánh, họ sẽ vẫn cười vang trước sự hài hước của Trư Bát Giới, họ sẽ vẫn tôn kính trước lòng kiên định của Đường Tăng. Và ở đâu đó trong góc tối của trang sách, họ sẽ thấy tên ta, Sa Ngộ Tịnh, người gánh hành lý đi cuối cùng đoàn người. Họ có thể sẽ lướt qua cái tên ấy rất nhanh, không kịp dừng lại để suy ngẫm, không kịp tự hỏi xem đằng sau đôi vai chai sạn ấy là cả một câu chuyện dài chưa bao giờ được kể. Nhưng điều đó không còn quan trọng nữa. Gánh nặng trên vai ta đã được đặt xuống, nhưng con đường trong tâm thức của ta thì vẫn đang tiếp tục trải dài đến vô tận, vượt qua cả Linh Sơn, vượt qua cả không gian và thời gian, đi thẳng vào cõi tịch mịch của sự tỉnh thức hoàn toàn mà không một ngôn từ nào của thế gian có thể diễn tả được. Ta nhắm mắt lại, nghe tiếng gió thổi qua những vách núi của Tây Thiên, và mỉm cười một nụ cười cuối cùng dành cho chính mình, kẻ đã đi trọn vẹn cả một huyền thoại mà không bao giờ thuộc về nó.
#TayDuKy #SaTang #HanhTrangThucTe #DocNgoNghiem #TriếtLýSống
