
Đa số các dự án gãy đổ không phải vì thiếu nhân sự hay thiếu ngân sách, mà vì cấp điều hành nhầm lẫn giữa khối lượng hoạt động bận rộn và việc hoàn tất các cam kết chiến lược. Sự siêng năng vô hướng của đội ngũ thực thi chỉ làm tăng tốc độ đốt vốn khi các hành động đơn lẻ không gánh vác trách nhiệm tài chính và rủi ro cuối cùng.
Quản lý hành động và cam kết – 0095
I. THỰC TRẠNG HIỆN TRƯỜNG: BẪY HOẠT ĐỘNG VÀ ẢO TƯỞNG TIẾN ĐỘ TRONG CÁC TẬP ĐOÀN
Nhìn vào báo cáo quản lý của hàng loạt dự án cấp tập đoàn từ hạ tầng năng lượng, khí nén thiên nhiên, khí hóa lỏng, bất động sản công nghiệp cho đến chuyển đổi hệ thống quản trị, một điểm chung dễ nhận thấy là các biểu đồ tiến độ luôn ngập tràn màu xanh. Các đầu việc được đánh dấu hoàn thành đúng hạn, hàng nghìn tài liệu được phê duyệt, các cuộc họp giao ban diễn ra liên tục với mật độ dày đặc. Tuy nhiên, khi đối soát với cột mốc vận hành thương mại hoặc thời điểm dòng tiền dự án bắt đầu tạo ra giá trị, toàn bộ hệ thống rơi vào trạng thái tê liệt. Đây chính là hiện tượng ảo tưởng tiến độ, nơi việc theo dõi khối lượng công việc thực hiện đã thay thế hoàn toàn việc kiểm soát rủi ro và thực thi cam kết.
Trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam và khu vực, sự đứt gãy giữa hành động và cam kết xuất hiện ở cả ba trục: phạm vi, tiến độ và chi phí. Tại các dự án xây dựng hạ tầng năng lượng như kho cảng khí hóa lỏng hay mạng lưới phân phối khí nén, đội ngũ điều hành thường sa lầy vào việc kiểm soát hàng chục nghìn hành động tác nghiệp nhỏ lẻ như giao nhận vật tư, thi công móng, kiểm định thiết bị. Nhưng họ lại bỏ quên cam kết cốt lõi: khả năng cấp khí liên tục với lưu lượng và áp suất tiêu chuẩn vào đúng ngày ấn định trong hợp đồng bao tiêu với khách hàng công nghiệp. Kết quả là công trình có thể hoàn thành chín mươi phần trăm khối lượng xây lắp, nhưng năm phần trăm còn lại nằm ở các nút thắt pháp lý hoặc thử nghiệm tích hợp không đạt yêu cầu, khiến toàn bộ vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng bị đóng băng, chi phí lãi vay trong thời gian xây dựng gia tăng và doanh nghiệp phải đối mặt với các khoản phạt vi phạm hợp đồng khổng lồ.
Bản chất của vấn đề nằm ở tư duy quản lý nhầm lẫn giữa đầu vào và đầu ra. Một danh sách hàng trăm hành động được thực hiện không tự động chuyển hóa thành một cam kết được hoàn thành. Khi cấp quản lý dự án đo lường sự tiến bộ bằng số lượng giờ công đã chi ra hoặc số lượng biên bản đã ký, họ đang tạo ra một vùng an toàn giả tạo cho đội ngũ thực thi. Đội ngũ này sẽ tập trung vào những việc dễ làm, những việc có thể nhanh chóng báo cáo hoàn thành, thay vì đối mặt với những mắt xích gian khó nhất – nơi chứa đựng rủi ro cao nhất của dự án.
Sự suy thoái trong quản lý hành động còn thể hiện ở việc mất khả năng dự báo dòng tiền và quản trị công suất. Tại các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật cao hay sản xuất công nghiệp, việc chậm trễ một cam kết tiến độ ở cấp độ dự án thành phần sẽ kéo theo sự gãy đổ dây chuyền của toàn bộ chuỗi giá trị. Khi dự án xây dựng nhà máy không bàn giao đúng cam kết, dự án tuyển dụng nhân sự vận hành rơi vào trạng thái dư thừa, hợp đồng cung ứng nguyên liệu đầu vào bị vi phạm, và kế hoạch bán hàng của bộ phận kinh doanh trở thành một kịch bản trên giấy. Chi phí chìm không dừng lại ở ngân sách bị vượt của bản thân dự án đó, mà là chi phí cơ hội của toàn bộ tập đoàn bị đánh mất trên thị trường.
II. NHỮNG GIẢ ĐỊNH SAI LẦM KINH ĐIỂN CỦA TẦNG LỚP ĐIỀU HÀNH DỰ ÁN
Để khắc phục một hệ thống đang gãy đổ, trước hết phải đập tan những giả định sai lầm đã cắm rễ sâu vào tư duy của các nhà quản lý dự án và ban điều hành.
Giả định sai lầm thứ nhất: Mọi hành động trong kế hoạch đều có giá trị ngang nhau.
Các nhà quản lý thường đối xử với các danh mục công việc bằng một thái độ cào bằng. Họ thiết lập các hệ thống đo lường dựa trên tỷ lệ phần trăm hoàn thành tổng thể. Một hành động san lấp mặt bằng hay mua sắm văn phòng phẩm được tính toán gộp chung trọng số với hành động nghiệm thu hệ thống điều khiển trung tâm hoặc xin cấp phép đấu nối mạng lưới điện, khí. Đây là tư duy cực kỳ nguy hiểm. Trong thực tế quản trị, mười phần trăm số lượng hành động mang tính cấu trúc sẽ quyết định chín mươi phần trăm sự thành bại của dự án. Khi không phân loại được hành động gánh vác cam kết chiến lược và hành động tác nghiệp bổ trợ, nhà quản lý sẽ mất cảnh giác trước những điểm nghẽn sinh tử.
Giả định sai lầm thứ hai: Quản lý dự án là quản lý công việc chứ không phải quản lý rủi ro và cam kết.
Hầu hết các điều phối viên dự án hiện nay dành tám mươi phần trăm thời gian để nhắc nhở, đôn đốc và ghi nhận việc thực hiện các tác vụ. Họ đóng vai trò của một người đưa tin chuyên nghiệp hơn là một người kiểm soát rủi ro. Quản lý hành động đúng nghĩa không phải là hỏi “Hôm nay đã làm được việc gì?”, mà là hỏi “Hành động đã hoàn thành này đã loại bỏ được rủi ro nào, và nó có đảm bảo cho cam kết tiến độ, chi phí ở mốc tiếp theo hay không?”. Khi hành động bị tách rời khỏi bối cảnh quản trị rủi ro, việc hoàn thành hành động chỉ là một hình thức diễn xướng quản trị, không đem lại bất kỳ sự đảm bảo nào cho sự an toàn của dự án.
Giả định sai lầm thứ ba: Hợp đồng pháp lý hay biên bản giao việc sẽ tự động tạo ra cam kết thực sự.
Cấp điều hành thường tin rằng khi đã ký hợp đồng với nhà thầu hoặc giao nhiệm vụ bằng văn bản cho bộ phận nội bộ với các điều khoản phạt rõ ràng, họ đã sở hữu một cam kết chắc chắn. Đây là sự ngây thơ về mặt vận hành. Cam kết không hình thành từ văn bản, mà hình thành từ năng lực thực thi, nguồn lực sẵn có và cấu trúc động lực của bên nhận cam kết. Khi một nhà thầu nhận một cam kết vượt quá năng lực vận hành hoặc khi cấu trúc tài chính của họ bị đứt gãy, các điều khoản phạt trong hợp đồng chỉ có giá trị trên giấy tờ. Doanh nghiệp không thể dùng tiền phạt vi phạm hợp đồng để bù đắp cho việc mất đi vị thế cạnh tranh trên thị trường khi dự án bị trễ hạn hàng năm trời.
Giả định sai lầm thứ tư: Áp dụng các quy trình và công cụ quản lý hiện đại sẽ tự động giải quyết khâu thực thi.
Rất nhiều tập đoàn đã chi hàng triệu đô la để triển khai các hệ thống phần mềm quản lý dự án phức tạp, xây dựng các văn phòng quản lý dự án với hàng đống quy trình chuẩn hóa. Tuy nhiên, hệ thống vẫn gãy đổ. Công cụ chỉ là kính phóng đại năng lực của bộ máy. Nếu bộ máy quản trị bên dưới mang tư duy trốn tránh trách nhiệm, đùn đẩy cam kết và báo cáo đối phó, thì công cụ hiện đại chỉ giúp doanh nghiệp tạo ra các báo cáo sai lệch một cách nhanh chóng và đẹp mắt hơn.
III. MỔ XẺ CƠ CHẾ GÃY ĐỔ: SỰ TÁCH RỜI GIỮA HÀNH ĐỘNG VÀ CAM KẾT
Sự thất bại của một dự án đơn lẻ hiếm khi xảy ra như một biến cố đột ngột. Đó là một quá trình phân rã từ từ, bắt đầu từ những vết nứt rất nhỏ trong cơ chế quản lý hành động và cam kết hàng ngày.
Cấu trúc gãy đổ này vận hành theo một chuỗi phản ứng dây chuyền như sau:
Đầu tiên là sự xói mòn tính xác thực của hành động. Trong giai đoạn lập kế hoạch, các hành động được thiết lập dựa trên các giả định lạc quan về năng lực, thời gian và chi phí. Khi triển khai, đội ngũ thực thi gặp phải các trở ngại thực tế nhưng thay vì điều chỉnh kiến trúc vận hành hoặc tái thương lượng cam kết, họ chọn giải pháp che giấu hoặc làm biến dạng bản chất của hành động. Một bài kiểm tra kỹ thuật chưa đạt tiêu chuẩn đầy đủ vẫn được ký xác nhận “hoàn thành có điều kiện”. Một hạng mục mua sắm thiết bị bị trễ hạn giao hàng vẫn được ghi nhận “đã phát hành đơn đặt hàng”. Sự thoả hiệp ở cấp độ hành động tác nghiệp này chính là mầm mầm độc phá hủy toàn bộ cấu trúc cam kết tài chính và chất lượng của dự án.
Tiếp theo là hiện tượng bất cân sóng thông tin giữa hiện trường và phòng điều hành. Tầng lớp quản lý trung gian, do áp lực từ chỉ tiêu hoặc do cơ chế thưởng phạt lệch lạc, có xu hướng lọc bỏ các thông tin rủi ro trước khi chuyển lên cấp cao hơn. Ban lãnh đạo nhận được các báo cáo được làm đẹp, tin rằng mọi thứ vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Trong khi đó, tại hiện trường, các chi phí ẩn bắt đầu tích tụ. Chi phí làm lại do chất lượng kém, chi phí lưu kho bãi cho thiết bị về sớm nhưng không thể lắp đặt, chi phí nhân công chờ việc do mặt bằng chưa sẵn sàng – tất cả đều âm thầm gặm nhấm biên lợi nhuận của dự án.
Thứ ba là sự suy sụp của ma trận trách nhiệm. Khi một cam kết bị vi phạm, hệ thống bắt đầu quy trình đổ lỗi vòng tròn. Bộ phận mua sắm đổ lỗi cho bộ phận kỹ thuật vì chậm phê duyệt hồ sơ; bộ phận kỹ thuật đổ lỗi cho nhà thầu vì năng lực yếu kém; nhà thầu đổ lỗi cho chủ đầu tư vì chậm thanh toán hoặc chậm bàn giao mặt bằng. Nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này là do dự án không được thiết kế một ma trận cam kết đơn điểm. Không có một cá nhân hay một thực thể duy nhất chịu trách nhiệm toàn diện cho một kết quả tài chính hay vận hành cụ thể. Trách nhiệm bị xé nhỏ thành các hành động rời rạc, và khi kết quả cuối cùng gãy đổ, tất cả các bên đều có lý do hợp lệ để chứng minh mình đã “hoàn thành đúng phần việc được giao”.
Dưới đây là sơ đồ so sánh giữa Mô hình Quản lý Hành động Tác nghiệp Truyền thống và Mô hình Quản lý Cam kết Chiến lược dựa trên các tiêu chí cốt lõi:
| TIÊU CHÍ SO SÁNH | MÔ HÌNH HÀNH ĐỘNG TRUYỀN THỐNG | MÔ HÌNH CAM KẾT CHIẾN LƯỢC |
|---|---|---|
| Đối tượng tập trung | Công việc, giờ công, danh mục công việc hoàn thành | Đầu ra tài chính, rủi ro, khả năng vận hành thực tế |
| Phương thức đo lường | Tỷ lệ phần trăm tiến độ công việc (hoạt động) | Mức độ hoàn thành các mốc cam kết cứng (kết quả) |
| Cơ chế giải trình | Phân tán theo chức năng, đùn đẩy trách nhiệm khi có sự cố | Trách nhiệm đơn điểm gắn liền với chế tài tài chính rõ ràng |
| Báo cáo và Thông tin | Tập trung vào quá khứ, che giấu sai lệch để đạt chỉ tiêu ngắn hạn | Báo cáo cảnh báo sớm rủi ro, minh bạch hiện trạng hiện trường |
| Xử lý biến động | Tăng thời gian, tăng ngân sách một cách thụ động | Điều chỉnh phạm vi, tái cấu trúc nguồn lực, cắt giảm tổn thất sớm |
Sự khác biệt căn bản giữa hai mô hình này nằm ở thái độ đối với sự thật. Mô hình truyền thống tìm cách duy trì sự bình yên giả tạo thông qua các con số thống kê khối lượng công việc. Mô hình cam kết chiến lược đối mặt với thực tế trần trụi của rủi ro tài chính và vận hành, buộc mọi hành động phải phục vụ trực tiếp cho việc bảo vệ các cam kết cốt lõi của dự án.
IV. HỆ QUẢ HỆ THỐNG VÀ THIỆT HẠI TÀI CHÍNH ẨN
Khi hệ thống quản lý hành động và cam kết bị phá vỡ, thiệt hại không chỉ dừng lại ở các con số vượt ngân sách được ghi nhận trên sổ sách kế toán của dự án. Thiệt hại nguy hiểm hơn nhiều nằm ở các tác động hệ thống mang tính hủy diệt đối với toàn bộ doanh nghiệp.
Một là, sự bào mòn vốn lưu động và gia tăng chi phí tài chính. Khi dự án kéo dài do các cam kết không được thực thi đúng hạn, dòng tiền đầu tư bị kẹt lại trong trạng thái dở dang. Doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục chi trả chi phí quản lý dự án, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, lãi vay ngân hàng mà không có dòng tiền thu về để bù đắp. Trong ngành năng lượng như phân phối khí nén hay khí hóa lỏng, việc trễ hạn đưa hạ tầng vào vận hành có nghĩa là toàn bộ bộ máy thương mại và vận tải đã chuẩn bị sẵn sàng phải hoạt động dưới công suất, tạo ra tỷ lệ chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm cực kỳ cao, vắt kiệt sức khỏe tài chính của công ty mẹ.
Hai là, sự suy giảm uy tín chiến lược và mất mát cơ hội thị trường. Trong cấu trúc thị trường hiện đại, tốc độ chiếm lĩnh thị trường là yếu tố sống còn. Một dự án phát triển sản phẩm mới hoặc mở rộng mạng lưới phân phối bị chậm trễ sáu tháng có thể khiến doanh nghiệp mất đi toàn bộ lợi thế người dẫn đầu. Khách hàng sẽ chuyển sang các đối thủ cạnh tranh có khả năng cung ứng đáng tin cậy hơn. Khi uy tín về khả năng thực thi dự án bị tổn hại, doanh nghiệp cũng mất luôn khả năng đàm phán các hợp đồng thương mại lớn trong tương lai. Đối tác sẽ yêu cầu các điều khoản bảo lãnh khắt khe hơn, biên lợi nhuận bị ép xuống thấp hơn để bù đắp cho rủi ro thực thi kém của doanh nghiệp.
Ba là, hiện tượng độc hóa văn hóa tổ chức. Khi việc vi phạm các cam kết không bị xử lý một cách triệt để và nghiêm khắc, sự dễ dắt sẽ lan truyền như một dịch bệnh trong tập đoàn. Cán bộ nhân viên sẽ coi việc trễ hạn, việc không đạt chất lượng là điều bình thường. Những người làm việc nghiêm túc, có trách nhiệm sẽ bị ức chế, mất động lực và dần rời bỏ tổ chức. Hệ thống sẽ giữ lại những cá nhân thành thạo kỹ năng bao biện, biến doanh nghiệp thành một tổ chức cừu mộng, ngập tràn các kế hoạch tráng lệ nhưng hoàn toàn tê liệt về năng lực thực thi.
V. THIẾT KẾ LẠI CẤU TRÚC QUẢN TRỊ HÀNH ĐỘNG VÀ CAM KẾT
Để đảo ngược đà gãy đổ và thiết lập lại kỷ cương thực thi, ban điều hành phải tái thiết cấu trúc quản lý hành động và cam kết dựa trên các nguyên tắc chiến lược cứng rắn. Không có chỗ cho sự thoả hiệp hay các giải pháp nửa vời.
1. Phân định ranh giới giữa Cam kết Cứng và Hành động Mềm
Hệ thống quản trị phải chia toàn bộ các yếu tố của dự án thành hai tầng rõ rệt:
– Tầng Cam kết Cứng: Đây là những mốc kết quả bất di bất dịch, có tác động trực tiếp đến tính khả thi tài chính, nghĩa vụ pháp lý và vận hành chiến lược của dự án. Ví dụ: Ngày cấp khí thương mại đầu tiên, Hạn mức ngân sách tối đa không được vượt qua, Tiêu chuẩn an toàn môi trường không thể đánh đổi. Các Cam kết Cứng này phải được sở hữu bởi các nhân sự cấp cao nhất của dự án và không được phép thay đổi trừ khi có sự phê duyệt của Hội đồng Quản trị với một phân tích tác động tài chính đầy đủ.
– Tầng Hành động Mềm: Đây là chuỗi các công việc tác nghiệp, phương pháp triển khai, công cụ thực hiện do đội ngũ bên dưới tự do tối ưu hóa. Đội ngũ thực thi được trao quyền chủ động hoàn toàn trong việc điều chỉnh, thay đổi, thay thế các hành động mềm, miễn sao việc điều chỉnh đó đảm bảo giữ vững các Cam kết Cứng.
2. Thiết lập Cơ chế Quản lý Trách nhiệm Đơn điểm
Bỏ ngay lập tức tư duy quản lý theo kiểu ban bệ, hội đồng chịu trách nhiệm chung. Mỗi Cam kết Cứng phải được gán cho duy nhất một cá nhân chịu trách nhiệm sinh tử. Cá nhân này có quyền quyết định nguồn lực và quyền phê duyệt các hành động liên quan, nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm cá nhân bằng sự nghiệp và lợi ích tài chính của mình nếu cam kết đó bị gãy đổ.
Ma trận phân định trách nhiệm phải được thiết kế lại theo chuẩn mực không đùn đẩy:
| MỐC CAM KẾT CỨNG | NGƯỜI SỞ HỮU CAM KẾT | NGUỒN LỰC ĐƯỢC GIAO | CHẾ TÀI VÀ QUYỀN HẠN |
|---|---|---|---|
| Vận hành hệ thống cấp khí đúng hạn | Giám đốc Dự án Hạ tầng | Toàn quyền quyết định thầu phụ và ngân sách dự phòng | Thưởng theo hiệu quả dòng tiền; Miễn nhiệm nếu trễ hạn quá 15 ngày |
| Duy trì ngân sách trong hạn mức phê duyệt | Giám đốc Tài chính Dự án | Quyền kiểm soát mọi khoản chi tiêu và giải ngân | Cắt thưởng nếu vượt ngân sách mà không có phê duyệt cấp cao |
| Đảm bảo an toàn và tiêu chuẩn môi trường | Trưởng bộ phận HSE | Quyền dừng dự án ngay lập tức nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng | Trách nhiệm pháp lý và kỷ luật giải thể nếu xảy ra sự cố lớn |
3. Chuyển đổi Cơ chế Báo cáo từ “Khối lượng đã làm” sang “Rủi ro còn lại”
Báo cáo dự án phải được triệt tiêu hoàn toàn các thông tin mang tính kể công hay liệt kê danh mục công việc đã thực hiện. Mọi báo cáo trình lên ban điều hành chỉ được phép tập trung vào ba câu hỏi chiến lược:
– Những cam kết nào trong ba mươi ngày tới đang có nguy cơ bị vi phạm?
– Mức độ ảnh hưởng tài chính và tiến độ của nguy cơ đó là bao nhiêu?
– Hành động can thiệp nào cần được ban điều hành phê duyệt ngay lập tức để bảo vệ cam kết?
Nếu một cuộc họp giao ban dự án không đưa ra được các quyết định giải quyết điểm nghẽn hoặc không tái phân bổ nguồn lực để bảo vệ cam kết, cuộc họp đó là một sự lãng phí tài nguyên của doanh nghiệp.
4. Áp dụng Kỷ luật Cắt giảm Bồi thường và Cắt đứt Chi phí Chìm
Một nhà hoạch định chiến lược lạnh đồi phải biết khi nào nên dừng một chuỗi hành động không đem lại kết quả. Khi một nhà thầu hoặc một bộ phận nội bộ liên tục vi phạm các cam kết trung gian, hệ thống phải kích hoạt ngay cơ chế phạt, thanh lý hợp đồng hoặc thay thế nhân sự mà không chần chừ. Sự nhân nhượng, hy vọng rằng đối tác sẽ “làm tốt hơn trong giai đoạn sau” là nguyên nhân chính dẫn đến các thảm họa tài chính. Chi phí chìm đã mất phải được coi là một khoản lỗ đã xảy ra; quyết định tiếp theo chỉ dựa trên việc hành động mới có bảo vệ được cam kết tương lai hay không.
VI. TÁI ĐỊNH HÌNH NĂNG LỰC THỰC THI VÀ ĐÁNH ĐỔI CHIẾN LƯỢC
Quản trị dự án cấp cao không phải là nghệ thuật làm hài lòng tất cả mọi người. Đó là nghệ thuật đưa ra các lựa chọn đánh đổi khắc nghiệt nhằm bảo vệ giá trị cốt lõi của doanh nghiệp. Để xây dựng năng lực thực thi đỉnh cao, ban lãnh đạo tập đoàn phải chấp nhận ba sự đánh đổi chiến lược sau:
Đánh đổi thứ nhất: Đánh đổi sự hòa nhã tổ chức lấy tính kỷ luật sắt đá về cam kết.
Một văn phòng dự án hoạt động hiệu quả không thể là một câu lạc bộ thư thái. Nơi đó phải là một môi trường minh bạch đến mức trần trụi, nơi sự yếu kém, chậm trễ và sai lệch bị phơi bày ngay lập tức mà không có sự che chắn của các mối quan hệ cá nhân. Cấp điều hành phải sẵn sàng loại bỏ những nhân sự, kể cả những quản lý lâu năm, nếu họ không thể thích nghi với văn hóa chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng.
Đánh đổi thứ hai: Đánh đổi tính linh hoạt vô hạn lấy sự tuân thủ nghiêm ngặt các cột mốc chiến lược.
Phương pháp quản trị linh hoạt thường bị hiểu sai thành sự vô kỷ luật trong việc tuân thủ các cam kết về thời gian và ngân sách. Linh hoạt chỉ được chấp nhận ở cấp độ hành động tác nghiệp (làm thế nào để đạt được mục tiêu). Ở cấp độ cam kết (khi nào đạt được và tốn bao nhiêu tiền), sự nghiêm ngặt phải là tuyệt đối. Việc liên tục thay đổi mục tiêu cuối cùng dưới danh nghĩa “thích ứng với tình hình mới” thực chất là sự đầu hàng trước sự yếu kém trong năng lực quản trị.
Đánh đổi thứ ba: Đánh đổi sự tối ưu cục bộ lấy sự sống sót và thành công của toàn bộ hệ thống.
Đôi khi, để bảo vệ cam kết tiến độ của toàn bộ dự án, doanh nghiệp phải chấp nhận hy sinh sự tối ưu chi phí của một hạng mục đơn lẻ. Ví dụ, sẵn sàng chi trả chi phí vận chuyển hàng không cao gấp nhiều lần cho một thiết bị thay thế bị hỏng để đảm bảo ngày vận hành thương mại của nhà máy, thay vì chờ đợi vận chuyển đường biển để tiết kiệm chi phí mua sắm nhưng làm trễ dự án cả tháng trời. Một nhà chiến lược phải có khả năng tính toán bài toán tài chính tổng thể để đưa ra những quyết định vượt qua tầm nhìn hẹp hòi của từng bộ phận chức năng.
VII. TỔNG KẾT VÀ MỆNH LỆNH THỰC THI
Cứu vãn một hệ thống quản lý dự án đang trên đà gãy đổ không bắt đầu bằng việc vẽ ra các quy trình mới hay mua sắm các công cụ đắt tiền. Nó bắt đầu bằng một sự thay đổi sâu sắc về mặt tư duy quản trị: Chuyển từ quản lý danh mục hành động sang kiểm soát tuyệt đối các cam kết.
Mọi cấp độ trong bộ máy điều hành phải hiểu rằng:
– Hành động là chi phí, Cam kết mới là tài sản.
– Hoàn thành chín mươi chín phần trăm một hành động mà không đạt được cam kết đầu ra thì giá trị tạo ra vẫn bằng không.
– Báo cáo tiến độ bằng màu xanh không có ý nghĩa nếu dòng tiền dự án vẫn là màu đỏ.
Nhiệm vụ cấp bách của ban lãnh đạo tập đoàn ngay lúc này là tiến hành một cuộc rà soát toàn diện tất cả các dự án đang triển khai. Bóc tách toàn bộ các báo cáo ảo tưởng, xác định lại đâu là các Cam kết Cứng mang tính sống còn, gán trách nhiệm đơn điểm cho từng cá nhân cụ thể, và thiết lập một cơ chế kiểm soát rủi ro dựa trên thực tế hiện trường trần trụi.
Trong cuộc chiến thực thi chiến lược, không có chỗ cho những lời giải thích hay những nỗ lực vô hình. Chỉ có các cam kết được hoàn thành đúng hạn, trong ngân sách và đạt chất lượng mới là thước đo duy nhất cho năng lực quản trị và sự tồn vong của doanh nghiệp.
#QuanTriDuAn #QuanLyHanhDong #CamKetChienLuoc #QuanTriRuiRo #NangLucThucThi #DoanhNghiep
