Phương án đối phó chiến lược:
– Ngay lập tức phong tỏa hiện trường, thực hiện kiểm kê chi tiết khối lượng công việc đã hoàn thành và chưa hoàn thành bằng đơn vị kiểm định độc lập để làm cơ sở pháp lý chốt giá trị hợp đồng tại thời điểm dừng.
– Sử dụng điều khoản chấm dứt hợp đồng do lỗi của nhà thầu để tịch thu toàn bộ bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các khoản tiền giữ lại chưa thanh toán.
– Trực tiếp liên hệ và đàm phán thanh toán cho các nhà thầu phụ cấp hai, nhà cung cấp vật tư then chốt của nhà thầu chính để họ tiếp tục duy trì công việc tại hiện trường dưới sự quản lý trực tiếp của đội ngũ dự án của chủ đầu tư, hạn chế tối đa việc gián đoạn thi công.
– Chỉ định một nhà thầu phụ khác hoặc tự thực hiện các phần việc hoàn thiện còn lại, chi phí phát sinh sẽ được cấn trừ vào khoản công nợ còn lại với nhà thầu bị phá sản.
KỊCH BẢN 2: THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ CHÍNH KHÔNG ĐẠT CÁC CHỈ TIÊU HIỆU SUẤT TRONG GIAI ĐOẠN CHẠY THỬ CÓ TẢI
Khi tiến hành chạy thử nghiệm thu (Performance Test), thiết bị chính của dự án (ví dụ: máy nén khí, tuabin phát điện, hệ thống lò hơi trung tâm) hoạt động ổn định nhưng không đạt được các chỉ số hiệu suất cam kết trong hợp đồng (như tiêu hao nhiên liệu cao hơn thiết kế, công suất đầu ra thấp hơn cam kết, phát thải môi trường vượt tiêu chuẩn). Nhà thầu giải thích do các yếu tố khách quan từ nguyên liệu đầu vào hoặc điều kiện thời tiết và yêu cầu chủ đầu tư vẫn phải ký nghiệm thu bàn giao kèm theo cam kết sẽ tinh chỉnh sau.
Phương án đối phó chiến lược:
– Tuyệt đối không ký biên bản nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng chính thức. Việc ký biên bản này đồng nghĩa với việc chủ đầu tư chấp nhận sản phẩm lỗi và chuyển rủi ro vận hành về phía mình, mất đi quyền lợi pháp lý lớn nhất để ép nhà thầu phải khắc phục lỗi kỹ thuật.
– Yêu cầu nhà thầu lập ngay một kế hoạch hành động khắc phục (Corrective Action Plan) chi tiết, xác định rõ nguyên nhân gốc rễ, các giải pháp kỹ thuật cụ thể, thời gian thực hiện và chi phí do nhà thầu chịu hoàn toàn.
– Áp dụng điều khoản phạt vi phạm hiệu suất (Performance Liquidated Damages) theo đúng quy định trong hợp đồng. Khoản phạt này phải đủ lớn để bù đắp cho tổn thất kinh tế của doanh nghiệp trong suốt vòng đời vận hành của tài sản do hiệu suất thấp gây ra.
– Nếu nhà thầu không thể khắc phục được lỗi hiệu suất sau một số lần thử nghiệm tối đa quy định, chủ đầu tư có quyền từ chối nhận thiết bị, yêu cầu nhà thầu hoàn trả toàn bộ số tiền đã thanh toán cộng với lãi suất phát sinh và bồi thường thiệt hại thực tế.
KỊCH BẢN 3: XẢY RA SỰ CỐ AN TOÀN NGHIÊM TRỌNG HOẶC CHÁY NỔ TRONG GIAI ĐOẠN CHẠY THỬ NGHIỆM THU
Trong quá trình nạp khí chạy thử trạm phân phối gas, do lỗi thao tác của công nhân nhà thầu hoặc lỗi thiết bị, xảy ra sự cố rò rỉ khí gas lớn dẫn đến cháy nổ cục bộ tại khu vực bồn chứa, gây thiệt hại về tài sản và ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên hiện trường. Dự án bị các cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định đình chỉ hoạt động để điều tra nguyên nhân.
Phương án đối phó chiến lược:
– Kích hoạt ngay lập tức kế hoạch ứng phó sự cố khẩn cấp của dự án, phối hợp với các cơ quan chức năng để dập tắt đám cháy, tổ chức cứu nạn và phong tỏa hiện trường để đảm bảo an toàn tối đa cho con người.
– Thành lập ban điều tra sự cố nội bộ gồm các chuyên gia độc lập để xác định khách quan nguyên nhân gốc rễ của sự cố (do lỗi vận hành của con người, lỗi thiết kế kỹ thuật, hay lỗi chế tạo thiết bị).
– Làm việc chặt chẽ với công ty bảo hiểm dự án để tiến hành giám định thiệt hại, lập hồ sơ yêu cầu bồi thường bảo hiểm theo đúng các điều khoản bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng lắp đặt và bảo hiểm trách nhiệm đối với bên thứ ba đã mua.
– Đối với các thiệt hại không được bảo hiểm chi trả, xác định rõ trách nhiệm bồi thường của từng bên liên quan (chủ đầu tư, nhà thầu chính, nhà cung cấp thiết bị) dựa trên kết luận của cơ quan điều tra nhà nước và các điều khoản miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng để làm cơ sở xử lý tài chính khi đóng dự án.
BẢN CHẤT CỦA SỰ THAY ĐỔI: TỪ QUẢN LÝ TÁC VỤ SANG QUẢN TRỊ KẾT QUẢ VÀ GIÁ TRỊ
Khi nhìn sâu vào bản chất của sự thất bại trong quản lý dự án, chúng ta nhận ra rằng gốc rễ của vấn đề không nằm ở các công cụ kỹ thuật mà nằm ở sự lệch lạc về mục tiêu của đội ngũ thực thi. Phần lớn các nhà quản lý dự án hiện nay đang vận hành với tư duy quản lý tác vụ (Task-oriented) – họ tập trung toàn bộ năng lượng vào việc hoàn thành các công việc được giao trên danh sách việc cần làm mà không quan tâm đến kết quả cuối cùng và giá trị kinh tế mà công việc đó mang lại cho doanh nghiệp.
Sự chuyển dịch tư duy từ quản lý tác vụ sang quản trị kết quả và giá trị (Outcome and Value-oriented) đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong cách chúng ta định nghĩa về một dự án thành công. Một dự án không thể được gọi là thành công chỉ vì nó được hoàn thành đúng hạn và trong ngân sách được duyệt, nếu như sản phẩm của nó không thể đi vào vận hành thương mại an toàn, không đạt được các mục tiêu tài chính kỳ vọng, và không tạo ra năng lực cạnh tranh mới cho doanh nghiệp.
Để thúc đẩy sự chuyển dịch tư duy này trong toàn bộ tổ chức, ban điều hành cấp cao phải là những người tiên phong thay đổi cách thức đánh giá và ghi nhận hiệu quả công việc:
– Hãy ngừng tán dương các giám đốc dự án chỉ vì họ đã tổ chức một lễ khánh thành hoành tráng hay hoàn thành thi công vật lý đúng hạn.
– Hãy chỉ thực sự ghi nhận và phần thưởng xứng đáng cho các giám đốc dự án khi họ chứng minh được dự án đã được đóng một cách dứt điểm, hồ sơ quyết toán tài chính sạch sẽ, toàn bộ nguồn lực được giải phóng an toàn, tài sản được vốn hóa hiệu quả, và bộ phận vận hành tiếp quản sản phẩm một cách trơn tru và phát huy tối đa công suất thiết kế.
Sự chuyển dịch này là một hành trình gian nan, đòi hỏi sự kiên trì, bản lĩnh và sự nhất quán trong hành động của ban điều hành. Nhưng đó là con đường duy nhất để đưa doanh nghiệp vượt qua những thách thức khốc liệt của kỷ nguyên mới, xây dựng một hệ thống quản trị dự án đỉnh cao, và đạt được sự thịnh vượng bền vững trong dài hạn. Mọi chiến lược dù có vĩ đại đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không được thực thi bằng một năng lực quản trị xuất sắc và một sự cam kết tuyệt đối đối với kết quả cuối cùng. Giai đoạn đóng dự án chính là nơi thử thách bản lĩnh, trí tuệ và sự chuyên nghiệp thực sự của một tổ chức dẫn đầu.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN TỔNG KẾT VÀ ĐÓNG GÓI TRI THỨC DỰ ÁN (LESSONS LEARNED SYSTEMATIC METHODOLOGY)
Như đã phân tích ở phần trước, một trong những tổn thất vô hình nhưng lớn nhất của doanh nghiệp khi đóng dự án cẩu thả là sự bốc hơi của tri thức tổ chức. Doanh nghiệp liên tục trả tiền cho các lỗi sai lặp đi lặp lại vì không có một cơ chế chuyển hóa kinh nghiệm cá nhân thành tài sản trí tuệ của tập đoàn.
Để giải quyết triệt để vấn đề này, quy trình đóng dự án phải tích hợp một phương pháp luận tổng kết tri thức dự án có tính hệ thống và thực chiến cao, cấu trúc qua bốn giai đoạn: Thu thập – Phân tích – Hệ thống hóa – Tích hợp thực tế.
GIAI ĐOẠN 1: THU THẬP TRỰC TIẾP VÀ KHÁCH QUAN
Việc thu thập bài học kinh nghiệm không nên đợi đến khi dự án hoàn toàn kết thúc mới tiến hành, vì lúc đó nhiều thông tin chi tiết đã bị lãng quên hoặc bị bóp méo do tâm lý muốn nhanh chóng hoàn thành hồ sơ để nghỉ ngơi. Quy trình thu thập phải được thực hiện định kỳ tại các mốc hoàn thành quan trọng của dự án (ví dụ: sau khi hoàn thành thiết kế kỹ thuật, sau khi ký kết các gói thầu chính, sau khi hoàn thành lắp đặt thiết bị công nghệ chính).
Phương pháp thu thập phải đảm bảo tính khách quan và đa chiều:
– Thực hiện các cuộc khảo sát ẩn danh đối với các thành viên đội dự án, nhà thầu phụ và khách hàng để họ tự do chia sẻ những khó khăn, vướng mắc và những điểm nghẽn thực tế mà không sợ bị ảnh hưởng đến vị trí công việc hoặc quan hệ hợp tác.
– Tổ chức các buổi thảo luận rút kinh nghiệm (After Action Review) ngay sau khi xảy ra các sự cố lớn hoặc các sự kiện đặc biệt (như sự cố an toàn hiện trường, thay đổi nhà thầu đột xuất, chậm tiến độ nghiêm trọng của một gói thầu then chốt). Tại các buổi thảo luận này, trọng tâm phải đặt vào việc xác định khách quan điều gì đã xảy ra, tại sao nó xảy
